hcm
Sự Thật về hồ chí minh P01
http://www.youtube.com/watch?v=Yz-sUDtfVrg&feature=related
Sự Thật về hồ chí minh P02
http://www.youtube.com/watch?v=dOCpgoreveA
Sự Thật về hồ chí minh P03
http://www.youtube.com/watch?v=3WC-6z8FAAQ&feature=related
Sự Thật về hồ chí minh P04
http://www.youtube.com/watch?v=q0UIbg_3FiM&feature=related
Sự Thật về hồ chí minh P05
http://www.youtube.com/watch?v=C-pLuvSC0-U&feature=related
Sự Thật về hồ chí minh P06
http://www.youtube.com/watch?v=3pAMMS8LECs&feature=related
Sự Thật về hồ chí minh P07
http://www.youtube.com/watch?v=quBdmOEUc68&feature=related
Sự Thật về hồ chí minh P08
http://www.youtube.com/watch?v=7fHMHeG7ax8&feature=related
Sự Thật về hồ chí minh P09
http://www.youtube.com/watch?v=3_Sgz871zeo&feature=related
Sự Thật về hồ chí minh P10
http://www.youtube.com/watch?v=X_jYqCgkCPs&feature=related
Sự Thật về hồ chí minh P11
http://www.youtube.com/watch?v=KXGrKrhxTFQ&feature=related
Sự Thật về hồ chí minh P12
http://www.youtube.com/watch?v=nwmVyIuhx4U&feature=related
hcm va phu nu
http://www.youtube.com/watch?v=rK7-vLxcONE&feature=fvw
hcm va phu nu 2
http://www.youtube.com/watch?v=hApQAF7LxiA&feature=related
hcm va phu nu 3
http://www.youtube.com/watch?v=gurQ9_JuF6w&feature=related
hcm Giet Nguoi Duoi Chieu Bai Cai Cach Ruong Dat
http://www.youtube.com/watch?v=Qf-dWAAJYFo&feature=related
Dau To, Cai Cach Ruong Dat
http://www.youtube.com/watch?v=OIbNdqEqsdA&feature=related
Cải Cách Ruộng Đất 1
http://www.youtube.com/watch?v=vYH99ucagl0&feature=related
Cải Cách Ruộng Đất 2
http://www.youtube.com/watch?v=R_RObPYtS_Y&feature=related
Cải Cách Ruộng Đất 3
http://www.youtube.com/watch?v=oNBYYhBIWO8&feature=related
Cải Cách Ruộng Đất 4
http://www.youtube.com/watch?v=m5vhQu_l2Mk&feature=related
Cải Cách Ruộng Đất 5
http://www.youtube.com/watch?v=Lx311qXhXCU&feature=related
Cải Cách Ruộng Đất 6
http://www.youtube.com/watch?v=8NcFe8xPnhM&feature=related
Cải Cách Ruộng Đất 7
http://www.youtube.com/watch?v=813yhLSXLq4&feature=related
Cải Cách Ruộng Đất 8
http://www.youtube.com/watch?v=clYmXgLDjvQ&feature=related
Cải Cách Ruộng Đất 9
http://www.youtube.com/watch?v=–br-EQn648&feature=related
Quả lừa lịch sử: HCM / CSVN-CSTQ cướp chính quyền VN
“Giải mã Nhân Vật HCM chính là Giải mã Lịch sử ( bất hạnh ) của Dân TộcVN”
“Chúng mình già trẻ lớn bé mắc lừa bọn du côn” (Vua Bảo Đại) (1)

17.8.45: Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh:“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây! (8)
HCM là người VN yêu nước với tư tưởng Độc Lập Dân Tộc phải gắn liền với Cách Mạng và Xây Dựng XHCN ? HCM là người VN làm Tình Báo cho CSTQ hay là Tình báo TQ gỉa danh người VN với Sứ Mệnh “Cướp Chính Quyền VN về cho CSTQ” – Một vụ Buôn Vua Lã Bất Vi thời hiện đại ?
Cái gọi là Cách mạng mùa thu thực chất chỉ là 1 cuộc cướp nhanh chóng chánh quyền của CP Trần Trọng Kim sau khi vua Bảo Đại đã công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 11.3.1945 và giao cho Trần Trọng Kim thành lập nội các vào ngày 17.4.1945:
Ngày 17.8.45 từ một buồi Mít-tinh của Tổng Đoàn Công Chức để chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim bổng chốc trở thành biểu tình của Mặt Trận Việt Minh:“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây ! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây.
VN đã được 2 lần trao trả độc lập từ Nhật-Pháp qua vua Bảo Đại (Người có đầy đủ thẩm quyền nhất để đại diện cho dân tộc VN và cũng là Chủ nhân thật sự của Đất-Nước VN. Tại sao Nhật cũng như Pháp đã không thể bàn giao đất nước VN lại cho một Người CS vô sản như HCM là điều có thể hiểu được) . Cả hai lần Độc Lập VN điều bị HCM phá hoại và đã đưa đẩy đất nước VN vào 2 cuộc chiến đuổi Pháp đánh Mỹ đẫm máu hoàn toàn không cần thiết và có thể tránh được sau đệ nhị thế chiến ( Ở châu á có cả thẩy 14 nước đều được lần lược trao trả độc lập mà không cần phải đánh nhau với Đế Quốc Thực Dân Đô Hộ )
Sau đệ nhị thế chiến Chủ Nghĩa Phát Xít và Thuộc Địa đã thật sự cáo chung cùng với sự ra đời LHQ với chủ trương “Quyền dân tộc tự quyết”.Thay thế chổ của nó là những Nhà Nước CS mà Đức Đạt Lai Lạt Ma cho là : “Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, loài trùng độc sinh sôi nẩy nở trong rác rưởi của cuộc đời” (2). LX lấn chiếm một nữa Châu Âu, và ở Châu Á TQ đánh chiếm Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Mãn Châu, Nam Hàn (Trong vòng 5 tháng Hồng Vệ Binh của Mao đã đánh chiếm 95% Lảnh Thổ Nam Hàn vào tháng 9.1950, nhưng sau đó lính Mỹ / LHQ đổ bộ vào Nam Hàn đánh bật HVB trở lui lại vĩ tuyến 38 vào tháng 7.1953) … cho nên những cuộc chiến chống Chế độ CS sau đệ nhị thế chiến thật sự là chống lại sự bành trướng của Khối XHCN / CSQT. Cái bất hạnh của Dân Tộc VN là đã bị HCM đưa đẩy vào vòng tranh chấp giữa hai thế lực CS và Thế Giới Tư Do với cái vỏ bọc Tiến Hành chiến tranh dành độc lập VN và giải phóng miền Nam ra khỏi sự chiếm đóng của “Đế Quốc Tư Bản Mỹ”( Để bạn đọc có dịp so sánh: Nước Đức sau đệ nhị thế chiến cũng bị chia cắt như VN vì thua trận và thật sự mới là một nước bị chiếm đóng bởi Mỹ/Đồng Mình và LX, thế nhưng bà TT Đức đã đến tận nước Mỹ để “cám ơn vô hạn” : Thưa Quí vị, cho phép tôi được nói tóm tắt việc này trong một câu: Tôi biết, người Đức chúng tôi biết, chúng tôi cám ơn vô hạn Quí vị, những người bạn Mỹ của chúng tôi. Chúng tôi sẽ không bao giờ và cả cá nhân tôi sẽ không bao giờ quên Quí vị ! (5) và nhà nước CSVN hiện tại vẫn coi Mỹ như là thế lực thù địch của VN )
Tô Hải kể về cái ngày khởi đầu sa hố đó ( Tác gỉa sách “Hồi ký của một thằng hèn” ):
“Đúng ngày 17 tháng 8 năm 1945, chúng tôi kéo nhau đến quảng trường Nhà Hát Lớn Hà Nội mít-tinh chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim. Cuộc mít-tinh bắt đầu được mấy phút bỗng hàng loạt cờ đỏ sao vàng được tung ra, cờ quẻ ly bị giật xuống và trên bục diễn giả xuất hiện một người đeo poọc-hoọc, đăng đàn diễn thuyết, kêu gọi đồng bào đi theo Việt Minh, đánh Pháp, đuổi Nhật, đòi lại áo cơm, tự do, xóa bỏ gông xiềng… Những khẩu hiệu vừa phát ra đã có hàng ngàn người hô to hưởng ứng. Không một tiếng súng. Không một sự phản kháng từ ai, từ đâu, dù trại lính Nhật ở cách đó chỉ khoảng 300 mét!
Cuộc khởi nghĩa thành công nhanh như thế đó!
Sau này, loại thanh niên “yêu nước hồn nhiên” bọn tôi đâu có dám lên tiếng khi nghe người ta tự tâng bốc kể công với lịch sử rằng “Đảng đã lãnh đạo toàn dân nổi dậy đánh Pháp, đuổi Nhật dành tự do, độc lập cho đất nước!”
Và các nhà viết sử Nhà Nước Cộng Sản cũng lờ tịt luôn cái chuyện Việt Minh cướp chính quyền từ chính phủ quân chủ lập hiến Trần Trọng Kim — không khác vụ lật đổ chính phủ Kerensky ở nước Nga trong lúc nội tình nước này đang bối rối.
Thực tế lúc ấy là…. chúng tôi có biết gì đến cái đảng cộng sản cộng xiếc, nhất là ông Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau đó còn công khai tuyên bố GIẢI TÁN ĐẢNG của ông ta trước thế giới và đồng bào cả nước! Trong chính phủ có đầy đủ các vị Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh…. và cả “cố vấn” Bảo Đại nữa.
“Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây!
Tại sao Việt Nam không độc lập như Mã Lai, Nam Dương, Ấn Độ, Thái Lan, Phi Luật Tân… mà phải qua 30 năm chém giết kẻ thù thì ít…. mà chém giết nhau thì nhiều?”… Đây là sự hy sinh cực kỳ vô duyên cho cái chủ nghĩa không tưởng, cho sự tiếm quyền của một lớp người âm mưu làm VUA của cái nước Việt Nam khốn khổ này bằng chiêu bài Độc Lập, Tự Do mà ở các nước, người ta đã có từ nửa thế kỷ nay rồi vì may mắn thay, họ không có Đảng Cộng Sản cầm quyền! Bi kịch lớn của triệu tấn bi kịch nhỏ chính là đây! (HKCMTH – tr. 424 – 425)
Bi kịch đã phủ trùm đất nước do lệnh truyền chém giết viện dẫn lý do “đế quốc Mỹ đang xâm chiếm miền Nam, đồng bào bị bóc lột, đày đọa”, dù nhiều người sắm vai trong tấn kịch luôn tái tê tự vấn: “Từ nay đến ngày “ngụy nhào… miền Bắc còn bao nhiêu xương rơi, máu đổ? Phía bên kia thì thằng Phát, thằng Đạt, những đứa em tôi; thằng Định, thằng Thọ, những bạn học của tôi … bao giờ sẽ trở thành món “thịt băm” trước cái quyết tâm “còn cái lai quần cũng đánh” của “ta”? (HKCMTH – tr.291 – 292)
Vì họ đã thấy không đế quốc nào xâm lược, không có ai bị đọa đày mà cuộc chiến đã khởi từ mưu đồ độc bá của chỉ một nhóm, thậm chí của chỉ một người:
“Không có ông Hồ, không có cái đảng này thì đâu đến nỗi cả dân tộc tôi bị chiến tranh tàn phá, anh em, họ hàng đâu đến nỗi chia lìa, chém giết lẫn nhau, đâu đến nỗi thua xa những nước cũng thuộc địa như nước tôi đến cả thế kỷ về mọi mặt.” (HKCMTH tr. 388).
Mục tiêu thực sự của cuộc chiến đã được nêu hàng ngày bằng mọi lời lẽ có thể tóm gọn trong mấy câu thơ:
Giết! Giết nữa! Bàn tay không phút nghỉ!
Cho đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt!
(Tố Hữu)
http://www.quanvan.net/index.php?view=story&subjectid=26787
Nhạc sỹ Phạm Duy đã thuật lại trong cuộc phỏng vấn của đài RFA:
“Cuộc mít-tinh của các ông các bà công chức đang diễn tiến thì bỗng nhiên một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn được thả từ bao lơn của nhà hát xuống, rồi một người leo lên khán đài cướp micro để hô khẩu hiệu và hát bài Tiến Quân Ca của Văn Cao.
Thế là cuộc biểu tình của Tổng Đoàn Công Chức bỗng nhiên biến thành cuộc biểu tình của Mặt Trận Việt Minh…”
64 năm đã trôi qua, kể từ ngày HCM đọc “Tuyên Ngôn Độc Lập” ở Ba Đình vào ngày 2.9.1945, lý lịch HCM cùng với Vận Mệnh Ngả Nghiêng của dân tộc VN vẩn là điều mù mờ bí ẩn trong thời đại bùng nổ thông tin Internet khi chúng ta phát hiện:
- Hình ảnh và nhân chứng về ngày lịch sử “trọng đại” rất ít và mù mờ, phim ảnh chiếu cảnh HCM đọc TNĐL kéo dài chỉ đúng 1 giây (7) và dưới đây là tấm hình rõ nhất mà chúng ta tìm ra được ở trên Internet:

HCM đọc TNĐL ở Ba Đình vào ngày 2.9.1945
- Bản thảo viết tay của TNĐL cũng chưa hề được công bố, vì thế chúng ta có quyền đặt câu hỏi: Nhân vật đọc tuyên ngôn ở Ba Đình vào ngày 2.9.1945 thật sự là ai ? Người VN hay người Tàu gỉa làm người VN ?
- Qua 3 bản thảo viết tay của HCM mà chúng ta tìm thấy được trên Internet, thì một học sinh cấp trung học cũng có thể đánh giá “Khả năng viết và diễn tả tiếng Việt của Bác chưa qua khỏi trình độ tiểu học trường làng” hay “Đó là một người ngoại quốc viết tiếng Việt chưa rành” (Các bạn đọc thử tìm trên mạng Internet một tác phẩm viết tay tiếng Việt của HCM mà qua đó mọi người đều công nhận HCM viết rành tiếng Việt !).

Thơ kêu gọi Toàn Cuốc kháng chiến 19/12/1946

Thơ kêu gọi toàn quốc thi đua yêu nước tăng gia sản xuất 1/5/1948
“Di chúc HCM” (6) chỉ có vỏn vẹn vài trang mà HCM phải cần đến 1460 ngày mới hoàn tất . Đảng CSVN đã cho công bố 4 “dị bản” khác nhau vào năm 65, 68, 69, 89 và mỗi lần thêm bớt, cắt cúp, sửa chữa để thích hợp với nhu cầu tuyên truyền cho từng gian đoạn đến nổi Nhạc sĩ Tô Hải phải vô cùng” hoang mang” đặt câu hỏi:
Một tác giả từng nổi tiếng với hàng ngàn bài báo viết rất đơn giản, dễ hiểu, khúc chiết, rõ ràng, rất đại chúng, từng nêu gương học tập cách viết cho hàng loạt cây bút vô sản lẽ nào viết có hai trang “dặn dò trước khi chết” lại phải kéo dài tới 1,460 ngày!? cái gì đã làm cho ông Hồ khó khăn khi cầm bút thế nhỉ? Có sức ép nào không? Mà lại phải coi là tài liệu “tuyệt đối bí mật” cho đến ngày tuyên bố nữa chứ?
…Lí do gì mà mãi đến năm 1989, nhân kỉ niệm 20 năm ngày mất của bác, bản di chúc mới được công bố đầy đủ? Cho đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ. Vậy bản năm 65, 68, 69, bản nào là bản chuẩn? Ðặc biệt là bản cuối cùng lại có chứng nhận, chứng kiến của Tổng Bí Thư Lê Duẩn kí ở trang cuối lại càng gây thêm thắc mắc: vì sao một bản di chúc đọc kĩ thì chẳng có điều gì bí mật? Chẳng có kế hoạch chiến đấu, xây dựng đi theo đường lối ai, đoàn kết với ai, cảnh giác với ai mà đến nỗi phải có tổng bí thư đứng ra làm công chứng. Chẳng lẽ những điều dặn lại con cháu đồng chí là phải giữ gìn, đoàn kết trong đảng như con ngươi của mình, chẳng lẽ những điều mong muốn cho nhân dân có cơm no, áo ấm, được học hành. Chẳng nhẽ những nguyện vọng được an táng như một người dân bình thường lại trở thành những điều tuyệt mật hay sao?
Nguồn: Nhạc sĩ Tô Hải nói chuyện di chúc- http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=4162&Itemid=404

Ngục Trung Nhật Ký và Chúc thư của HCM 1969
Trong bản di chúc viết tay đầu tiên, chúng ta không tìm đâu ra được cụm từ “dân chủ”, nhưng để chứng tỏ HCM cũng yêu thích ân chủ , đảng CSVN đã tự ý thêm 2 câu vào bản di chúc “đánh máy” như sau:
“Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”
” Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.”
- Đáng ngạc nhiên hơn nữa khi chúng ta được biết là NAQ lúc còn trẻ có nét chữ rất đẹp được phát hiện bởi TS Vũ Ngự Chiêu vào năm 1983:
Ðầu tháng 2/1983, khi làm việc trên kho tài liệu trường Ecole coloniale, tức học hiệu huấn luyện các viên chức thuộc địa Pháp, trên đường Oudinot, quận 7, Paris, tôi vô tình khám phá ra nhiều hồ sơ học viên người Việt tại học hiệu này, như Bùi Quang Chiêu, Ðèo Văn Long, Phan Kế Toại, Trần Trọng Kim, Lê Văn Miễn, v.. v… tổng cộng khoảng 97 người (CAOM (Aix), Ecole Coloniale, cartons 27, 33 & Registers). Mục đích của tôi là tìm hiểu về những viên chức thuộc địa Pháp cùng thế hệ Tây học Việt Nam đầu tiên (ngoài những người tốt nghiệp các lớp huấn luyện ở các tu viện như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, v.. v…) để dùng cho chương Biến đổi văn hóa và xã hội của luận án Tiến sĩ. Thật vô tình, tìm thấy tập hồ sơ xin nhập học nhưng không được chấp nhận của Nguyễn Tất Thành, tức HCM sau này, cùng một người bồi khác được chủ Pháp mang về Paris. Ngoài hai lá thư viết tay gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Thuộc Ðịa, đề ngày 15/9/1911 tại Marseille, còn thêm ba tài liệu của Hội đồng quản trị trường. Trong biên khảo tam ngữ Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành (Paris: 1983) tôi đã trình bày khá rõ: Người mà chúng ta biết như HCM sau này đã rời nước không vì muốn tìm đường cứu nước, mà chỉ vì những tao ngộ bản thân (cha bị cách chức, tống giam, nên phải bỏ học nửa chừng, v.. v…). Từ cổng hậu đóng kín của trường Thuộc Ðịa, HCM sẽ tìm thấy cánh cửa mở rộng của Ðại Học Phương Ðông của Liên Sô Nga 12 năm sau.
Nguồn: Phỏng Vấn Sử Gia Vũ Ngự Chiêu Về Những Nghiên Cứu Lịch Sử Liên Quan Đến Hồ Chí Minh – Nguyễn Vĩnh Châu
Thơ Xin Nhập Học trường thuộc địa của Nguyển Tất Thành / NAQ vào ngày 15.9.1911
DỊCH :
Marseille ngày 15 tháng chín 1911
Kính gởi ông Bộ Trưởng bộ Thuộc Ðịa
Kính thưa ông Bộ Trưởng ,
Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng tốt của ông ban đặc ân cho tôi được nhận vào nội trú trường Thuộc địa.
Tôi hiện làm công nhân trong công ty ChargeursRéunis để mưu sinh (trên tàu Amiral Latouche-Tréville).
Tôi hoàn toàn không có tài sản và khao khát được học hỏi. Tôi mong ước trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi, đồng thời có thể làm cho họ hưởng được lợi ích về học vấn.
Tôi gốc tỉnh Nghệ An, xứ An Nam.
Trong lúc chờ đợi sự trả lời mà tôi hy vọng là thuận lợi, xin ông Bộ Trưởng nhận nơi đây lòng tôn kính và tri ân trước của tôi.
Nguyễn Tất Thành, sinh tại Vinh năm 1892 , con của ông Nguyễn sinh Huy, Phó Bảng. Học sinh pháp văn, quốc ngữ, chữ hán.

Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi cho người vợ Tàu Tăng Tuyết Minh (1905–1991) bị Mật thám Đông Dương chặn được ngày 14.8.1928 và Daniel Hémery phát hiện vào năm 1990
DỊCH : Cùng em xa cách Đã hơn một năm Thương nhớ tình thâm Không nói cũng rõ. Cánh hồng thuận gió Vắn tắt vài dòng Để em an lòng Ấy anh ngưỡng vọng. Và xin kính chúc Nhạc mẫu vạn phúc. Anh ngu vụng : Thuỵ (Bản dịch của N.H. Thành)
- Chúng ta còn ngạc nhiên và hoang mang hơn nửa là trình độ Nga Ngữ của HCM khá hơn Việt Ngữ khi phát hiện ra được bức thư viết tay của HCM gởi cho Stalin xin chỉ thị và giúp đỡ cho CCRD : Không có một chỗ gạch sửa như trong 3 lá thơ viết bằng tiếng Việt gởi cho Nhân Dân VN với nét chử hoàn khác hẳn với những thơ nói trên. Theo các Nhà Bút tích học thì những người với nét chử xoắn tròn có đời sống nội tâm bí mật và thích dùng bạo lực để giải quyết vấn đề.
Đồng chí Stalin kính mến
Tôi đã bắt đầu soạn thảo đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam, và sẽ giới thiệu với đồng chí trong thời gian tới.
- Tôi gửi tới đồng chí một số yêu cầu, và hi vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.
1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để làm quen và tìm hiểu thực trạng ở đó. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp đủ để có thể giao tiếp với nhiều người. Từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi đi đường mất khoảng 10 ngày.
2. Chúng tôi muốn gửi tới Liên Xô 50-100 du học sinh, với trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, trong số họ có người là Đảng viên và cũng có ngừoi chưa phải là Đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí nhất trí về vấn đề này chứ.
3. Chúng tôi muốn nhận từ phía các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh ( thuốc sốt rét-thanhnam) cho quân đội và dân thường, có nghĩa rằng 5 tấn trong nửa năm
4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau
(a) Pháo cao xạ 37 li cho 4 trung đoàn, tất cả là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.
(b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tất cả là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
(c) 200 khẩu súng phòng không 12,7 li và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định vào ngày mùng 8 hoặc là mùng 9 tháng 11 sẽ rời khỏi Moscow.
Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và lời chúc túc đẹp nhất
% Ho Shi Min %
30-10-1952
đã kí

Thơ viết tay của HCM gởi cho Stalin (Thủ Tướng LX và cũng là TTK ĐCSLX) xin chỉ thị và giúp đở về CCRĐ vào ngày 30.10.1952
http://www.rusarchives.ru/evants/exhibitions/vietnam1/23.shtml
Cuối thơ HCM viết tên mình theo âm Tàu và ký tên bằng chữ Tàu. Đây có phải là tác phong của một nhà lãnh đạo VN viết thơ cho một lãnh đạo LX ? Vậy HCM là ai ? Người Tàu gỉa danh Việt ? CCRD đẩm máu nhất trong LSVN đã trôi qua nửa thế kỷ nay, nỗi sợ hãi và kinh hoàng của dân tộc VN vẫn còn đó nhưng tại sao các nhà sử gia và học gỉa VN chưa bao giờ đặt nghi vấn cho những phát hiện vô cùng khó hiểu về nhân vật HCM này ?
Tất cả đã cho thấy vụ Cải tạo Nông nghiệp do CS chủ trương và thực hiện này đã gây nhiều tội ác kinh hoàng và nhiều hậu quả nghiêm trọng.
Trước hết, đó là tàn sát thường dân vô tội. Nông dân VN hiền hoà, chất phác đang làm ăn sinh sống và hết lòng đóng góp vào cuộc kháng chiến, bỗng dưng bị ĐCS giáng cho họ một đòn chí tử. Đảng tuyên bố CCRĐ là nhằm thực hiện ước mơ muôn đời của nông dân: “người cày có ruộng”, nhưng thực tế thì tầng lớp năng nổ, giỏi giang nhất ở nông thôn bị quy là phú nông, địa chủ, cường hào ác bá, hết đường sinh sống; tầng lớp cán bộ nông thôn từng chịu đựng gian khổ lãnh đạo sản xuất thì bị quy là phản động, gián điệp… bị bắn giết hay bị trừng trị.
Tiếp đến là phá hoại truyền thống tốt đẹp hàng nghìn năm của dân tộc, truyền thống hiếu hoà, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau ở nông thôn VN. Chỉ trong vài năm, Đảng đã đánh tan tinh thần «tương thân tương ái» thường đậm đà trong mối quan hệ người với người, đặc biệt nơi thôn dã, qua chính sách “phân định thành phần giai cấp” hết sức bất công, vô lý, tùy tiện, bằng kiểu “tố khổ” đầy thành kiến, gian trá và hận thù.
Thứ ba là phá hoại luân thường của xã hội. Trong lịch sử dân tộc, chưa bao giờ đạo lý làm người bị đảo điên một cách quái đản như trong CCRĐ. Để “tìm ra địa chủ”, “tìm ra phản động”, “tìm ra của chìm”, các đội cải cách đã ép buộc con cái “đấu tố” cha mẹ, con dâu “đấu tố” bố mẹ chồng, con rể “đấu tố” bố mẹ vợ, vợ “đấu tố” chồng, anh em “đấu tố” lẫn nhau, trò “đấu tố” thầy, kẻ hàm ơn “đấu tố” người làm ơn… Những người bị quy là địa chủ ngay lập tức bị tước mọi quyền làm người, bị hạ nhục, bị mất mạng và gia đình họ cũng chịu vạ lây.
Cuối cùng là phá hủy truyền thống tâm linh và văn hoá của đất nước. Qua cuộc CCRĐ, ĐCS cố tình triệt hạ các tôn giáo và tín ngưỡng bằng cách tước đoạt đất hương hỏa, ruộng nhà chung, ruộng nhà chùa vốn vẫn dành lo việc cúng tế thờ phượng, từ thiện bác ái, nuôi sống chức sắc, tu bổ các nơi phụng tự. Với đòn độc địa này, tất cả mọi tổ chức, mọi cơ sở tôn giáo và tín ngưỡng -vốn che chở hồn dân tộc- đều trở nên điêu đứng và dần dần tàn tạ.
Những khuôn mặt tội đồ như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Hồ Viết Thắng, Hoàng Quốc Việt đã trở thành vết nhơ muôn đời cho dân tộc. Việc làm của họ, được đồng đảng của họ hôm nay tiếp nối, cho toàn dân thấy được tính chất phi nhân bản, phản dân tộc của chủ nghĩa và chế độ Cộng sản. Nó không thể tồn tại trên đất nước Việt Nam !
Nguồn: CUỘC CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TẠI MIỀN BẮC 1949-1956 – http://www.doi-thoai.com/baimoi1109_194.html

Cải cách ruộng đất: Địa chủ bị đấu tố
Qua những phát hiện “khó hiểu” về những Bút Tích của HCM / NAQ thì đến đây chúng ta có quyền nghi ngờ rằng HCM và NAQ là 2 nhân vật hoàn toàn khác nhau và chúng ta thử tiếp tục tìm hiểu thêm về Qúa Trình Hoạt Động cho CSTQ / CSLX và khảo sát những hình ảnh của HCM / NAQ có thề tim thấy được ở trên mạng Internet.
Chúng ta phải lý giải như thế nào về những khác biệt bút tích giữa tiếng Nga và tiếng Việt ? Phải chăng Thư Ký Vũ Kỳ (1921-2005) mới thật sự là tác gỉa của những lá thư viết tay tiếng Việt nói trên ? Vũ Kỳ đã “tự kể” những bổ túc thêm vào trong di chúc HCM:
Năm 1967, Bác không sửa gì nhiều bản di chúc nhưng đến năm 1968 thì Người sửa rất nhiều. Phần mở đầu Bác viết năm 1965 là “Năm nay tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khỏe mạnh” nhưng nay Bác sửa: “Năm nay tôi vừa 78 tuổi, vào lớp những người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây”. Có lẽ không muốn mọi người lo, Bác viết tiếp: “Người ta đến khi tuổi tác càng cao thì sức khỏe càng thấp. Đó là một điều bình thường”.
Sau đó Bác viết thêm đoạn “về việc riêng” có ý mới là sau khi hỏa táng sẽ lấy tro xương của Bác để vào ba hộp sành cho mỗi miền Bắc, Trung, Nam. Bác viết thêm về những công việc cần làm sau khi giải phóng miền Nam. Đó là chỉnh đốn lại Đảng, chăm sóc đời sống của các tầng lớp nhân dân, miễn thuế nông nghiệp một năm, xây dựng lại thành phố và làng mạc… Những đoạn về chỉnh đốn Đảng, chăm sóc thương binh Bác viết rồi lại gạch chéo. Đoạn nói về xây dựng đất nước… Bác gạch dọc bên lề. Rất nhiều đoạn vòng xuống vòng lên, mực xanh lẫn mực đỏ. Có lẽ lúc đó Bác còn nhiều trăn trở, Người chưa yên tâm lắm khi giã biệt cuộc đời này? Nói đến đây ông Kỳ dừng lại. Có lẽ ông đang hồi tưởng lại tâm tư của chính mình.
Nguồn: Chuyện kể về “Tài liệu tuyệt đối bí mật” – 2004 – http://vietbao.vn/Xa-hoi/Chuyen-ke-ve-Tai-lieu-tuyet-doi-bi-mat/40046784/157/
Như vậy Vũ Kỳ cũng là ngưòi Tàu và làm phụ tá tình báo cho HCM !? Cho nên không phải là ngẩu nhiên mà HCM đã giới thiệu VNG cho Vũ Kỳ vào năm 1941:
Năm 1941, đồng chí Vũ Kỳ được Đảng cử sang Trung Quốc học tập quân sự để chuẩn bị điều kiện cho đấu tranh vũ trang. Khi rời Cao Bằng để qua biên giới, Bác Hồ dặn ông: “Chú sang đó sẽ gặp chú Giáp, nguyên là giáo sư dạy ở Trường Thăng Long. Chú nhớ chuyển lời hỏi thăm của Bác”.
Đêm đầu tiên gặp nhau trên đất nước bạn, hai người đã nằm gác chân lên nhau tâm sự đến gần sáng. Dương Hoài Nam (bí danh của đại tướng Võ Nguyên Giáp) hỏi rất nhiều về tình hình Hà Nội. Còn U Xao Ty (bí danh mới được tổ chức đặt cho đồng chí Vũ Kỳ) thì lắng nghe như nhập tâm những điều dặn dò của vị giáo sư Trường Thăng Long mà mình đã từng nghe danh tiếng…
Cách mạng thành công, Bác Hồ và đồng chí Võ Nguyên Giáp về Hà Nội. Đồng chí Trần Đăng Ninh đưa ông Vũ Kỳ đến gặp Bác giữa lúc thường vụ đang họp ở 48 Hàng Ngang. Thấy ông xuất hiện đột ngột, đồng chí Võ Nguyên Giáp reo lên: “Ô Kỳ, U Xao Ty!”. Trần Đăng Ninh ngạc nhiên hỏi: “Biết nhau à?”.
Nguồn: Tiễn đưa đồng chí Vũ Kỳ – http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=75783&ChannelID=3

Vũ Kỳ và HCM 1960
Theo tài liệu chính thống, từ 1930 đến 1941 HCM đã có những hoạt động như sau:
Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại Cửu Long (九龍, Kowloon) thuộc Hương Cảng, ông thống nhất ba tổ chức đảng cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đó đổi tên là “Đảng Cộng sản Đông Dương”, rồi đổi thành “Đảng Lao Động Việt Nam” và nay là “Đảng Cộng sản Việt Nam”).
Tháng 3 năm 1930, ông trở lại Thái Lan trong một thời gian ngắn, sau đó quay lại Trung Hoa.
Những năm 1931 – 1933
Năm 1931, dưới tên giả là Tống Văn Sơ (Sung Man Ch’o), Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam với ý định trao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương. Tờ L’Humanité số ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 đưa tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù tại Hồng Kông đồng thời tố cáo đây là âm mưu của thực dân Pháp câu kết với thực dân Anh nhằm ám sát người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương[21]. Nhưng sau đó nhờ sự biện hộ và giúp đỡ tận tình của luật sư Frank Loseby[22], Tống Văn Sơ được thả ngày 28 tháng 12 năm 1932. Ông đi Thượng Hải rồi bí mật quay trở lại Liên Xô.
Thời kì ở Liên Xô lần thứ hai
Ông đến Moskva vào mùa xuân năm 1934. Với bí danh Lin, Nguyễn Ái Quốc học ở Trường Quốc tế Lenin (1934-1935). Ông dự Đại hội lần thứ 7 Quốc tế Cộng sản (từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 20 tháng 8 năm 1935) với vai trò quan sát viên của ban thư ký Dalburo với tên Linov[23]. Theo tài liệu của một số nhà sử học, ông bị buộc ở Liên Xô cho đến năm 1938 và bị giam lỏng ở đó do bị nghi ngờ về lý do ông được nhà cầm quyền Hương Cảng trả tự do[24]. Trong những năm 1931-1935, ông đã bị Trần Phú và sau đó là Hà Huy Tập phê phán về đường lối cải lương “liên minh với tư sản và địa chủ vừa và nhỏ”, không đúng đường lối đấu tranh giai cấp của Quốc tế Cộng sản[25][26].
Từ năm 1938 đến đầu năm 1941
Năm 1938, ông trở lại Trung Quốc. Trong vai thiếu tá Bát Lộ quân Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đến công tác tại văn phòng Bát Lộ quân Quế Lâm, sau đó đi Quý Dương, Côn Minh rồi đến Diên An, căn cứ đầu não của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hồng quân Trung Quốc mùa đông 1938.
Trở về Việt Nam
Ông trở về Việt Nam vào ngày 28 tháng 1 năm 1941[27], ở tại hang Cốc Bó, bản Pác Bó, tỉnh Cao Bằng với bí danh Già Thu. Tại đây, ông mở các lớp huấn luyện cán bộ[28], cho in báo, tham gia các hoạt động thường ngày… Tài liệu huấn luyện và tuyên truyền chủ yếu là sách do ông dịch và viết về nhiều chủ đề. Tại cuối một cuốn sách như vậy ông ghi “Việt Nam độc lập năm 1945″[29]. Ông cho lập nhiều hội đoàn nhân dân như hội phụ nữ cứu quốc, hội phị lão cứu quốc, hội nông dân cứu quốc…
Tháng 5 năm 1941, hội nghị mở rộng lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp ở Cao Bằng và quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh). Ông là chủ tọa.
Nguồn: Hồ Chí Minh – http://vi.wikipedia.org/wiki/Hồ_Chí_Minh
Theo GS Hồ Tuấn Hùng , tác gỉa sách “Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo”, thì NAQ đã chết vì bệnh lao phồi nặng ( trước đệ nhị thế chiến chưa có thuốc để trị bệnh lao phổi) và đã được làm lễ truy điệu và an táng ờ LX vào năm 1932. Sau đó HCM / Hồ Tập Chương là 1 người Tàu đã âm thầm “chuyển hoa ghép cây” biến thành nhân vật NAQ với sự đồng tình của CSLX/CSTQ để tiếp tục sứ mạng “Phát triển sự liên hợp trận tuyến giữa 2 đảng CSTQ và CSVN”:
Mật lệnh công tác của HCM ( Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo )
Sau khi rời Mạc tư khoa đầu năm 1938, chính phủ quốc dân đảng TQ và Liên Xô lập thành liên minh để chống Nhật. Từ 1939-1944 HCM hoạt động ở Trung quốc, chấp hành nhiệm vụ CS Quốc tế giao phó. Trong lúc ấy cả VN, TQ, LX đều để chống lại đế quốc phát xít Nhật. LX giúp TQ về quân cơ (military plan).
Mật lệnh công tác của HCM là gì thì không rõ, nhưng sau khi thi hành thì có viết báo cáo gửi cho Trung ương ủy viên hội của Việt Nam và trả lời ĐCSQT, những mệnh lệnh đó liên can đến chủ nghĩa Trotsky, phát triển sự liên hợp trận tuyến giữa Trung Việt CSĐ.
Nguyễn Ái Quốc đã chết thật hay chết giả ?
Nguyễn Ái Quốc có bệnh phổi lâu năm, vào tháng 6 năm 1931 bị cảnh sát HongKong bắt và chuyển đến bệnh viện của nhà tù để điều trị. Đầu năm 1932 có tin đồn bị mất tích tung ra từ Hồng Kông, khoảng tháng 7 tháng 8 giới truyền thông báo chí đưa tin bị chết vì bệnh ho lao. Những tin này rất phổ biến mà mọi người vào năm đó đều biết. Báo chí thời bấy giờ của Hồng Kông, Anh Quốc, Pháp và Nga Sô đều tung tin sau khi Nguyễn Ái Quốc từ Singapore trở lại Hồng Kông không rõ nguyên nhân vì đâu mất tích rồi sau bệnh chết. Sinh viên Việt Nam ở Đại học Đông Phương Mạc Tư Khoa (Moscow) còn đặc biệt làm lễ truy điệu và tang lễ cho ông và đảng CS quốc tế phái cả người đến chia buồn. Trong tài liệu hồ sơ của NAQ năm 1933 của Cảnh sát an ninh Pháp cũng ghi rõ ràng NAQ bệnh chết đến nỗi 10 năm sau tình báo viên của Pháp báo cáo với chính phủ thực dân rằng Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở biên giới Trung-Việt. Chính phủ trả lời : “Vô lí, cái thằng điên đưa tin bậy bạ, đầu thập niên 30 (1930) NAQ đã chết ở Hồng Kông rồi!”
Những tài liệu nguyên thuỷ về sự việc trên vẫn còn rành rành trước mắt và đều được báo chí thời đó ghi chép, là tư liệu lịch sử đầu tiên nắm giữ sự thật mà mọi người lúc ấy đều không nghi ngờ gì nữa. Trong vòng mười năm đó (1932-1941) Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn mất tích, không có một dấu vết gì trên “sân khấu lịch sử”. Trong mười năm đó tất cả ghi chép về bất kỳ hoạt động nào của Nguyễn AQ đều là của một HCM tự xưng là Nguyễn ái Quốc. mà là những tư liệu được quay lại bổ túc thêm sau này.
HCMinh sau hơn 10 năm (xuất hiện trở lại ) phủ nhận mình chết vì ho lao, biện minh rằng năm ấy vì phương tiện muốn đào vong nên cố ý ngụy tạo tin đã bệnh chết. Những cấp cao của đảng CS quốc tế, Trung Cộng và Việt Cộng một mặt toàn lực che đậy những hoạt động của HCM (Hồ tập chương) từ năm 1929 đến 1933, một mặt không ngừng truyền tin giả rằng HCM tức là Nguyến Ái Quốc để làm NAQ sống lại trên sân khấu lịch sử. Ví dụ vào năm 1933 vì để tạo ấn tượng giả rằng NAQ vẫn còn sống mà tung tin NAQ cùng với người bạn Pháp Paul Vaillant Couturier gặp gỡ nhau tại Thượng Hải với ý đồ muốn người đời tin là NAQ vào năm 1933 vẫn hoạt động ở Thượng Hải diễn thành màn “chuyển hoa ghép cây”. Muời năm sau khi NAQ bệnh chết, ngày 6 tháng 6 năm 1941 Hồ Chí Minh lần đầu tiên xuất hiện công khai với tên NAQ phát biểu thư hiệu triệu toàn quốc đồng bào, kêu gọi nhân dân VN đứng lên cách mạng làm tròn nhiệm vụ xây dựng độc lập cho đất nước. Từ đó, NAQ vốn im lặng trong mười năm trường, đã bị thế nhân quên rồi trong ý thức chợt hồi sinh và xuất hiện trở lại trên sân khấu lịch sử. Và rồi HCM đem chuyện đời của mình những ngày tháng “chuyển hoa ghép cây” sau khi NAQ đã chết ngụy biện rằng: “Mùa xuân năm 1932 sau khi mất tích ở HongKong, trốn đến Hạ Môn dưỡng bịnh nửa năm. Đầu năm 1933 từ Hạ Môn đến Thượng Hải, cùng năm ấy mùa xuân từ Thượng Hải đến Mạc Tư Khoa.” Từ ấy, ve sầu thoát xác tạo nên một HCM – tức là nhân sinh mới của NAQ.
Như cả đến sự thật NAQ bệnh chết, đã bị lịch sử giải thích là vì muốn tránh sự truy lùng của (cảnh sát) đặc vụ Pháp nên cố ý đưa tin giả. (Để rồi) cuối cùng dưới sự tuyên bố của cấp cao đảng CS quốc tế làm củng cố thêm hình ảnh“HCM tức là NAQ”, đảng CS Trung Quốc và đảng CS Việt Nam đã tạo dựng thành công màn “NAQ chết đi sống lại” do đảng CS quốc tế đạo diễn. NAQ có thật sự chết vì bệnh lao không? Đảng CS Quốc tế có đạo diễn màn “chết đi sống lại” không? Xin mời mọi người cùng nhìn lại lịch sử năm xưa, nghe chứng cớ lịch sử phân trần để trả chân tướng lại cho lịch sử.
NAQ bị bệnh lao nặng trên đường tới Mạc Tư Khoa và sau đó đã chết và được chôn ở Mạc Tư Khoa
NAQ có phải vào mùa thu năm 1932 bệnh chết vì lao phổi không cứ phân tích tình huống chính ngay lúc ấy thì hầu như có thể xác định được vậy. Y cứ hồi kí của đảng viên Việt Cộng Lí Đức Phương : “Năm 1925-1927 NAQ ở Quảng Châu 900 ngày lao lực hơn bình thường, làm việc cả ngày lẫn đêm, đem chất lên ắt nhiều như núi, từ sáng 5 giờ làm đến 2 giờ khuya. Sức khoẻ không tốt, ho rất nhiều, có khi ho ra cả máu.” Năm 1930 từ tháng 7 đến tháng 9 NAQ gửi 6 lá thư cho Viễn Đông Cục kể rõ việc mình bị hành bởi cơn bệnh lao phổi. Ông đem bệnh tình diễn tả như sau: “Phổi rất khó chịu, lại ho ra máu, thân thể rất là hư nhược mệt mỏi.” Cuối tháng 11 năm 1931 NAQ viết thư gửi đồng chí Lam Đức Thư trong Liên minh thanh niên cách mạng rằng: “Thân thể tôi sức khoẻ đã đến hồi đáng ngại, thường xuyên ho ra máu. Cứ thế tiếp tục tôi e phải chết trong tù mất thôi.” Năm 1932 tình báo của Anh Quốc Long Paul lúc dùng thủy phi cơ giúp đỡ NAQ trốn khỏi HongKong thấy : “ NAQ rất yếu, chẳng ngừng ho hen, chừng như không còn đủ sức để nói chuyện.” (1) [đoạn này tác giả có ghi chú thêm là tài liệu trong cuốn nhật ký của Paul Draken có để trong sách để người đọc tham khảo]
Những gì ghi trên đây đều là kể trước lúc NAQ từ Hongkong trốn đi Thượng Hải, với bệnh tình nghiêm trọng như thế kia khi phải trải qua bao gian khổ lúc đi thuyền, lúc đi thuỷ phi cơ liệu có thể chịu đựng được không? Huống hồ gì sau khi lên bờ, đảng Quốc dân ở Thượng Hải cùng với cảnh sát ở tô giới của Anh và Pháp như cọp chăm chăm canh chừng tất cả hoạt động của đảng CS, NAQ cũng sẽ tự nhiên không dám lộ mặt đi tìm nơi cứu chữa bệnh tình, chỉ có thể cố gắng chịu đựng đến Mạc Tư Khoa. Chuyện bệnh chết ở Mạc Tư Khoa là khá có thể vậy. Vì thế, báo chí của đảng CS các nước sau khi tờ báo Chân Lí của Liên bang Sô Viết đưa tin trước tiên thì đến tờ NHân Đạo của đảng CS Pháp, tờ Công nhân của đảng CS Anh thay phiên nhau liên tiếp trong tháng 7 tháng 8 năm 1932 báo tin NAQ chết vì bệnh lao phổi và du học sinh Vn tại Nga cử hành tang lễ cho NAQ. Theo đây suy luận “NAQ bệnh chết trên đường đến Mạc Tư Khoa và được mai táng ở Mạc Tư Khoa” thì có thể xác nhận là sự thật, tuyệt chẳng phải là cái chết giả như HCM biện minh đó chỉ là cái cớ để dễ bề đào vong thì có thể dễ dàng chôn vùi chân tướng của sự thật.
Sự sai lầm trong cách biện minh của HCM về cái chết vì bệnh của mình
Cách giải thích về cái chết của HCM có trái ngược nhau không? Có lúc nói “tin chết giả được tung ra là tin đồn của đương cục thực dân Pháp phát tán. Có khi lại bảo: “Luật sư Frank Loseby cố ý đưa tin NAQ chết là muốn tung hỏa mù để NAQ dễ dàng trốn thoát.” Và rồi phiên bản tiếng Việt của HCM truyện hay HCM Biên Niên Tùng Thư biện minh về cái chết của NAQ trước sau khác nhau rất khó khiến người chấp nhận đó đồng với cách giải thích của HCM. (Sách nói) rằng: “Loan truyền tin đã chết là cớ để trốn khỏi HongKong.” Và (sách ghi) đặc biệt HCM nói là: “Tin chết giả được phát tán là lời đồn của thực dân Pháp ý đồ muốn làm xuống tinh thần tranh đấu của dân chúng.” Đây hầu như có điểm chẳng thông. Tin NAQ chết là được bắt đầu loan truyền vào mùa thu năm 1932 mà HCM nói lúc rời HongKong đến Hạ Môn là tháng 1 năm 1933. Thời gian cách nhau gần nửa năm, thật không đúng với kinh nghiệm và lý lẽ thường tình. Theo tình huống thật mà nói, bảo chết tạo hỏa mù để dễ trốn thoát thì thời gian tung tin giả và thời gian thật sự trốn thoát phải tiến hành cùng lúc thì mới phù hợp sự thật. Đằng này thời gian cách nhau gần nửa năm trời. Và càng vô lý hơn nữa là đến những 10 năm sau mới nói mình vẫn còn sống để nói rõ (nguyên nhân) tin tức đã tung ra từ 10 năm trước. Chưa chết mà cứ nói đã chết còn làm nhọc công mọi người lo lắng làm đám tang và mở lễ truy điệu cùng lúc với tổng thư ký Trần Phú khi ấy cũng vừa mất. Cách giải thích hoang đường và tức cười như thế không hợp với lý lẽ thông thường. Những lời biện minh ấy thật như là tự lấy đá ném chân mình. Mà nguyên nhân thật sự là HCM đang sử dụng mánh khoé lừa dối “mượn xác hoàn hồn”, “chuyển hoa ghép cây”.
Mượn xác hoàn hồn và chuyển hoa ghép cây
Năm 1933 Hồ đến Mạc tư khoa, tình hình sức khoẻ lộ rõ rất tệ, bệnh phổi vẫn đeo mang, người rất ốm, sắc mặt trắng xám, đầu cạo trọc lóc, đôi khi ho sù sụ, trong đàm có máu. Do vì lúc ấy không có thuốc trị bệnh lao đặc biệt hiệu nghiệm nào, Hồ trị bằng phương pháp phải rất quy cũ trong sinh hoạt, nghiêm túc tuân thủ giờ giấc làm việc và nghỉ ngơi đúng mực. Mỗi ngày sáng sớm thức dậy đều tập thể dục. Trong phòng của ông có quả tạ và dụng cụ thể thao tập ngực. (HCM tại TQ – Tưởng Vĩnh Kính, trang 82)
Tổng kết lại những tư liệu tường thuật bệnh tình ở trên: theo những ghi chép trước năm 1933, bệnh sử của NAQ đều có liên hệ chặt chẽ đến bệnh lao phổi, rất phù hợp với sự thật NAQ bệnh mất vì ho lao vào mùa hạ năm 1932. Và sau 1933 hầu như không hề thấy một ghi chép nào nói HCM có bệnh lao phổi. Cuối cùng tháng 9 năm 1969 HCM lại chết vì bệnh tim suy kiệt mà không phải bệnh ho lao. Tuy nhiên ở điểm 19 ghi lúc HCM đến Mạc tư khoa sức khoẻ yếu kém, vẫn mang bệnh phổi, thỉng thoảng ho và trong đàm có máu. Song nguồn phần tư liệu này (của sách HCM tại TQ) lại là từ hồi kí của phó bộ trưởng bộ giáo dục của Bắc Việt Nguyễn Khánh Tuyền, mục đích là để HCM thuận lợi tiếp tục sự nghiệp cách mạng khiến VN độc lập của NAQ, cố ý đem chứng bệnh lao phổi vừa lấy mất sinh mạng của NAQ gán cho HCM. Cái ý đồ ghép bệnh sử ho lao để nối kết hai người là sai lầm (vì bệnh đã nặng vậy mà từ 1933 trở đi không có một ghi chép nào về bệnh ho lao gì nữa).
Nguồn: Hồ Chí Minh Sanh Bình Khảo / Trích Dịch Blacky và Nhi
http://prisonbreak1612.multiply.com/journal/item/27

Hình Nguyễn Ái Quốc (bên phải) đã được cạo ghép sửa lại, đặc biệt là tai bên trái sự sai lệch rất rõ ràng. Vì ý đồ muốn tạo sự liên kết giữa Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh

Hình Chụp HCM với những năm tháng khác nhau. Hình HCM / Lin (bên trái, hàng dưới) là lúc vừa đến Moskau năm 1933 và hình NAQ / Lý Thụy / Tống Văn Sơ ( bên phải, hàng dưới ) lúc bị bắt ở HongKong vào năm 1931, đây cũng là tấm hình cuối cùng của NAQ
Nếu nhìn kỹ vành tai, mũi và miệng cùa NAQ / Lý Thụy / Tống Văn Sơ (bên phải) và HCM / Lin (đầu trọc , bên trái) thì chúng ta có những nhận xét sau:
1) Vành tai không giống nhau
2) Mũi của NAQ thì kín và mũi của HCM thì hĩnh (phồng)
3) Miệng của NAQ thì bình thường và của HCM thì rộng
Chúng ta giải thích như thế nào về sự khác biệt khó hiểu kể từ lúc vào tù (1931) và ra tù (1933) và tại sao những hình ảnh về HCM / NAQ đều bị cạo sửa, nhất là vùng gẩn lỗ tai, mũi, miệng thường là mờ đi hay qúa sáng hoạt qúa tối để không thể còn nhìn cho rõ và tô vẽ lại truớc khi cho lưu hành ?
Trước Hồ Tuấn Hùng thì cũng đã có 2 tác giả VN nói về bệnh lao phổi của NAQ ở HongKong:
1) Nhân dân Việt Nam bắt đầu nghe tên Hồ Chí Minh từ tháng 8 năm 1945. Ngày 28 tháng 8 năm đó (nghĩa là ngay sau ngày Việt Minh cướp chính quyền) báo chí Hà Nội công bố thành phần Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới thành lập do ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Trước đấy, chưa ai nghe đến tên Hồ Chí Minh bao giờ, và mọi người đều thắc mắc về cái tên hơi kỳ lạ đó. Nhiều người cho rằng cái tên đó văn hoa quá không phải là tên thật mà chỉ là tên hiệu.
Dư luận bàn tán về lý lịch ông Hồ Chí Minh, nhất là các nhân viên trong tân chính phủ hồi ấy lại càng băn khoăn hơn, và tất cả đều nóng lòng muốn biết rõ ông Hồ là ai và tên thật là gì. Nhưng rồi cũng chẳng phải chờ lâu, vì chỉ mấy hôm sau bắt đầu có tin đồn Hồ Chí Minh là tên mới của Nguyễn Ái Quốc, con người bí mật đã từng “khai sinh ra Đảng Cộng sản Việt Nam”.
Khi nghe tin đồn này, sở Mật thám Pháp đã lập tức lục lại hồ sơ để tìm ảnh Nguyễn Ái Quốc. Theo hồ sơ chính thức thì Nguyễn Ái Quốc đã chết ở Hồng Kông năm 1933. Khi đem so sánh bức ảnh đã phai nhạt của Nguyễn Ái Quốc với những tấm ảnh của ông Hồ bán đầy đường Hà Nội, sở Mật thám Pháp mới biết họ Nguyễn vẫn còn sống, và sau 10 năm ẩn náu trong bóng tối đã trở lại chính trường dưới cái tên Hồ Chí Minh. Các chuyên viên sở Mật thám Pháp quyết đoán Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc mặc dầu sau 20 năm gian khổ, vóc dáng và nét mặt họ Nguyễn có thay đổi rất nhiều. Bằng cớ là vành tai phải của hai bức ảnh đều nhọn, trong khi tai bên trái vẫn đều đặn. Nhưng ông Hồ cứ chối như Cuội, nói rằng mình không phải là Nguyễn Ái Quốc. Ngay cả khi tướng Salan, đại diện Pháp dự cuộc đàm phán năm 1946, hỏi thẳng vào mặt ông Hồ, ông vẫn một mực chối cãi.
Riêng đối với người Việt thì ông Hồ không chối thẳng nhưng cứ trả lời loanh quanh. Thí dụ như trong năm 1946, ông đáp tầu Dumont D’Urville trở về Hải Phòng sau hội nghị Fontainebleau. Cùng đi trên chuyến tàu này có bốn chuyên gia Việt Nam mà ông Hồ đón từ Paris về nước. Một trong bốn ông là ông Võ Quý Huân, có hỏi ông Hồ: “Thưa chủ tịch, chủ tịch có biết ông Nguyễn Ái Quốc hiện nay ở đâu không ạ?” Ông Hồ chỉ mỉm cười và đáp: “Chú tìm ông ấy mà hỏi, tôi đâu biết”.
Không những ông Hồ chỉ giữ kín lý lịch của ông mà đến quê quán gốc tích của ông, ông cũng hết sức bí mật. Trong một bản danh sách ứng cử quốc hội năm 1946, ông khai sinh quán ở Hà Tĩnh; nhưng hiện nay ai cũng biết rõ ông sinh quán ở Nghệ An. Việc này được phơi bày công khai năm 1958 khi một phái đoàn nhân viên sứ quán các nước xã hội chủ nghĩa viếng thăm quê hương ông Hồ. Sau cuộc viếng thăm, báo chí Hà Nội đã thú nhận ông Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc. Tạp chí Tranh ảnh Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Việt Nam Thông tấn xã (Bắc Việt) ấn hành, trong số tháng 8 năm 1960, có đăng bức ảnh Nguyễn Ái Quốc với dòng chữ chú thích “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) năm 30 tuổi, đang bôn ba hoạt động ở hải ngoại”.
Mặc dầu lý lịch của ông Hồ đã được xác định rõ rệt, thế giới tự do vẫn không biết mấy về con người kỳ lạ ấy, và phần lớn những hoạt động của ông Hồ vẫn chỉ có Đệ Tam Quốc tế biết rõ mà thôi. Tất cả những điều ghi chép về ông Hồ chỉ là dựa vào tập hồ sơ mong manh của mật thám Pháp, Anh và những lời thuật lại của một vài người đã có dịp gặp ông.
Nguồn: Từ thực dân đến cộng sản – Một kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam / From Colonialism to Communism – Hoàng Văn Chí 1962
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9714&rb=08
Như vậy qua lời thuật lại của Hoàng Văn Chí thì HCM vẫn chưa chính thức công nhận mình là NAQ trên tầu Dumont D’Urville (về đến cảng Hải Phòng vào ngày 21/10/1946 ) thì những câu chuyện về Bà Chị Thanh hay Ông Anh Cả Khiêm ra Hà Nội thăm HCM 5, 10 ngày sau đó có khả năng là hoàn toàn bịa đặt và có lẽ câu chuyện về thăm quê nhà của HCM vào năm 1957/1961 cũng không có thật luôn:
Vào lúc 11gờ 30 phút ngày 27.10.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên sau bao nhiêu năm bôn ba đã được gặp lại chị gái mình – bà Nguyễn Thị Thanh. Hôm đó nhằm vào ngày Chủ nhật.
Trong câu chuyện đầy cảm động của tình chị em, bà Thanh hỏi Bác: “Cậu đi lâu thế có nhớ quê hương không? Cậu còn nhớ chị ngồi ru võng cho cậu ngủ không…”. Nước mắt của Bác Hồ bùi ngùi cảm động. Người đã nói với chị gái: “Chị ơi, quê hương, nghĩa nặng, ơn sâu, mấy mươi năm ấy biết bao nhiêu tình… Chị ơi, khi ở nước ngoài, có lúc đêm khuya thanh vắng, bỗng được nghe một lời ru con của người nhà mình thì lòng dạ lại càng thêm cồn cào nỗi nhớ quê hương, đất nước”.
Bà Thanh hỏi tiếp: “Khi nào cậu về thăm quê được?”. Bác đáp: “Em cũng muốn về thăm quê, nhưng chắc chắn còn lâu, vì việc nước còn nặng nề lắm”.
Đúng một tuần sau đó, ngày 3.11.1946, ông Nguyễn Sinh Khiêm ra Hà Nội gặp Bác. Cậu Khiêm hỏi: “Chú định đến khi nào về thăm quê nhà?”. Bác thưa: “Về đến đây cũng là về đến nhà rồi, tình hình và công việc thế này chưa cho phép nghĩ tới, chắc việc đó còn lâu”. Hôm đó cũng là ngày Chủ nhật.
Mãi đến 11 năm sau khi gặp lại chị gái và anh trai, Bác Hồ mới có dịp về thăm quê (1957).
Nguồn: “Người về thăm quê mang theo bao kỷ niệm”
http://tintucvina.com/?news=89683
NAQ từ bỏ làng quê ra đi vào năm 1911 và làm CT Nước vào năm 1945 mà chưa bao giờ về thăm lại làng quê của mình thì đúng là một nghi vấn lịch sử !
2) Cuối năm 1933, Tuấn đọc mấy tờ báo Pháp và An nam xuất bản ở Saigon và Hà Nội, thấy ở trang 4, trong một cột chữ nhỏ, một tin vắn tắt đại khái như sau đây :
Nguyễn Ái Quốc đã chết tại Hồng Kông vì bịnh lao
“Tin người Anh cho biết vừa rồi Nguyễn Ái Quốc, kẻ phiến loạn cách mạng An nam (agitateur révolutionnaire annamite) bị chết vì bịnh lao phổi trong ngục thất ở Hồng Kông. “
Cái tin ngắn chỉ có mấy dòng chữ nhỏ như thế, đăng ở cuối trang tư như một tin vặt không mấy quan trọng, nhưng đã gieo vào đầu óc của tất cả những người An nam làm cách mạng hồi đó, Quốc gia cũng như Cộng sản, sự tin chắc rằng cái tin kia là thật.
Ðối với thanh niên sinh viên như Tuấn trong trí óc nẩy ra ý nghĩ thực thà rằng Nguyễn Ái Quốc đã thuộc về thế hệ tiền bối như các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu thì sự chết về tuổi già là lẽ thường. Huống chi cụ Nguyễn Ái Quốc lại bị bịnh lao phổi, cụ chết vì bịnh đó cũng là lẽ tất nhiên.
Nói đúng ra, thời bấy giờ ở An nam ít có ai biết rằng Nguyễn Ái Quốc là cộng sản. Cái tên “Ái Quốc “ của cụ để cho các lớp người thanh niên yêu nước tưởng rằng cụ là một nhà cách mạng quốc gia lão thành, ở hải ngoại lâu năm như các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh vậy thôi.
Cái tin Nguyễn Ái Quốc chết vì bịnh lao phổi ở Hồng Kông đã làm xôn xao các giới cách mạng một thời gian rồi cũng chìm trong quên lãng. Dần dần không ai nói đến Nguyễn Ái Quốc nữa.
Mãi đến tháng 8 năm 1945, nghĩa là 12 năm sau, cũng như tất cả những người Việt Nam trong nước và hải ngoại, Tuấn nghe thấy lần đầu tiên cái tên Hồ Chí Minh và dư luận trong giới cách mạng quả quyết rằng “ Hồ Chí Minh “ chính là Nguyễn Ái Quốc. Tuấn hoàn toàn ngạc nhiên !
Vài năm sau đó, Tuấn được đọc ba bốn quyển sách ngoại quốc :
· Le VietMinh của Bernard Fall (Paris)
· Cinq hommes et la France của Jean Lacouture (Paris)
· From colonialism to communism (New York) của Hoàng Văn Chí.
· Le Mystérieux Hồ Chí Minh (Paris) của Hồ Văn Tạo.
mới biết rõ sự thật.
Sau khi Tưởng Giới Thạch tuyệt giao với Nga, năm 1927, Nguyễn Ái Quốc, nhân viên sứ quán Nga, theo lãnh sự Nga là Borodine phải từ giã Trung quốc trở về Moscou, để Hồ Tùng Mậu (tức là cố Mậu, T.S 40 “ xến xáng “, bị giam ở trại an trí Trà Khê (Phú Yên) từ năm 1940 đến năm 1945) ở lại thay thế làm Tổng Bí Thư Ðông Dương Cộng Sản Đảng.
Cuối năm 1929, Nguyễn Ái Quốc được lịnh trở lại (từ Nga) Hồng Kông tiếp tục hoạt động, nhưng bị người Anh bắt bỏ tù ngày 6 tháng 6 năm 1931. Bắt rồi được tha, Nguyễn Ái Quốc lẻn đi Singapore, nơi đây ông lại bị người Anh bắt lần thứ hai, đưa về Hồng kông, vào bịnh viện vì bịnh lao phổi.
Cuối năm 1933, Nguyễn Ái Quốc bổng dưng biến mất. Nhà cầm quyền Anh ở Hồng Kông không hề cho biết Nguyễn Ái Quốc mất tích trong trường hợp nào. Có lẽ ông thoát ngục trốn đi chăng ?
Dù sao họ cũng đã loan tin rằng Nguyễn Ái Quốc chết vì bịnh lao ở ngục thất Hồng Kông. Tờ báo Daily Worker, của đảng Cộng Sản Anh ở Luân Ðôn, cũng đăng tin xác nhận rằng Nguyễn Ái Quốc, lãnh tụ Cộng sản An nam, bị bịnh lao phổi đã từ trần trong ngục thất Anh ở Hồng Kông.
Ðồng thời bộ Thuộc địa Pháp ở Paris và Phủ Toàn Quyền Ðông Dương ở Hà Nội cũng nhận được tin ấy. Trong hồ sơ của Nguyễn Ái Quốc tại sở Mật Thám Pháp cũng có ghi rằng Nguyễn Ái Quốc chết vì bịnh lao phổi ở Hồng Kông năm 1933.
Sự thật, chỉ có một đôi người quan trọng của Komintern(cơ quan đầu não của cộng sản Ðệ Tam – Nga ), là biết Nguyễn Ái Quốc ở đâu và làm gì trong thời gian từ 1933 thoát ngục Hồng Kông, đến năm 1941, năm mà ông lại xuất hiện đột ngột ở Moscou.
Ngoài ra, chính những đảng cộng sản ở Moscou và ở khắp thế giới, và toàn thể đảng viên cộng sản An nam đều tin rằng Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bịnh lao ở ngục thất ở Hồng Kông, như nhà cầm quyền Anh đã tuyên bố, và báo Daily Worker của đảng cộng sản Anh ở Luân Đôn đã đăng tin xác nhận.
Theo các tài liệu chính xác mới được tiết lộ sau nầy, thì Staline rất bất bình Nguyễn Ái Quốc vì ông chủ trương cuộc nổi loạn quá sớm của cộng sản Nghệ An năm 1931, và Quảng Ngãi năm 1932, gây thất bại lớn lao cho đảng Cộng sản Ðông Dương trong thời kỳ phôi thai.
Do đó, năm 1933, Nguyễn Ái Quốc đang ở Hồng Kông được lịnh của Staline triệu về Moscou và bí mật bị đày đến miền Ðông Sibérie. Mãi đến mùa xuân năm 1941, Nguyễn Ái Quốc mới được Staline gọi về Moscou và được lịnh cùng đi với Nguyễn Khánh Toàn sang gấp Yenan, nơi đây Mao Trạch Ðông giúp Nguyễn Ái Quốc những phương tiện trở về biên giới Hoa – Việt, lập mặt trận Việt-Minh với các phần tử cách mạng ở Trung Quốc.
Lần đầu tiên, năm 1941, xuất hiện nơi đây tên “ Hồ Chí Minh “, vì Nguyễn Ái Quốc vẫn còn dấu bí mật lai lịch và tên tuổi thật của ông. Mãi đến năm 1958, vài tờ báo của chính phủ Hà Nôị mới được phép chính thức đăng rõ ràng Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc.
Tạp chí tranh ảnh “ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa “ do Thông tấn xã Việt cộng phát hành, số tháng 8 năm 1960, đăng ảnh Nguyễn Ái Quốc với câu đề phía dưới “Ðồng chí Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) lúc 30 tuổi đang hoạt động ở ngoại quốc. “
Nhưng năm 1933, Tuấn đọc báo Hà Nội và Saigon, cứ yên trí rằng Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bịnh lao phổi ở Hồng Kông. Chính một số đông lãnh tụ cộng sản ở Hà Nội lúc bấy giờ là Võ Nguyên Giáp, Ðặng Xuân Khu (Trường Chinh), Trần Huy Liệu, cũng đều tin chắc như vậy.
Trích: Tuấn, chàng trai đất Việt / tác giả Nguyễn Vỹ – 1969
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1n0n1n1n31n343tq83a3q3m3237n2nmn
Và theo như Đại sứ Trung Quốc Hồ Càn Văn thì HCM nói tiếng Tàu như tiếng mẹ đẻ:
Vâng, tôi xin nói đơn giản, hôm nay (ngày 7/11/2008) đồng chí Chủ tịch LHHNVN Vũ Xuân Hồng tặng tôi Kỷ niệm chương “Vì hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc”. Lần đầu tiên tôi sang Việt Nam là vào tháng 11/1965, sang học tiếng Việt. Hồi đó Việt Nam đang trong hoàn cảnh chiến tranh, Mỹ đang ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam. Ba tháng sau khi sang Việt Nam (tháng 2/1966), đích thân Bác Hồ đã mời lưu học sinh Trung Quốc chúng tôi đến Phủ Chủ tịch ăn cơm với Bác, Bác ân cần hỏi từng người một. Nếu ai quê ở Quảng Đông thì Bác nói tiếng Quảng Đông, nếu quê ở Bắc Kinh thì Bác nói tiếng phổ thông, quê ở Thượng Hải thì bác nói tiếng Thượng Hải. Bác có thể nói được rất nhiều tiếng địa phương của Trung Quốc và chúng tôi cảm thấy rất thân mật. Sau đó chúng tôi cử một đại biểu đại diện phát biểu với Bác và tôi là người được vinh dự đứng lên phát biểu. Kỷ niệm đó đối với tôi không bao giờ quên. Sau này, chúng tôi còn được gặp Bác hai lần nữa, một lần Bác vào thăm Đại sứ quán Trung Quốc và một lần Bác đi thăm lưu học sinh chúng tôi, sau đó thì Bác sức khỏe yếu nên chúng tôi không được gặp Bác nữa.
Nguồn: Trò chuyện với Đại sứ Trung Quốc Hồ Càn Văn – 21/11/2008
NAQ rất thích chưng diện áo vét thắt cà vạt còn HCM chỉ xuất hiện trước công chúng trong bộ quần áo đại cán và theo như lời của GS Hồ Tuần Hùng thì người ta chưa bao giờ thấy HCM mặt áo vét thắt cà vạt như NAQ thời trai trẻ:

NAQ tại hội nghị Quốc Tế Cộng Sản tại Nga vaò năm 1924
![]()
HCM đi thăm Tổng Thống Đông Đức Wilhelm Pieck ở Berlin 25.7.1957

HCM ( với áo đại cán) / Phạm Văn Đồng và phái đoàn tham dự “Hội nghị Fontainebleau 22.6.1946

NAQ tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tours 25.12.1920

Hồ Chí Minh đến Moscow tháng 7/1955

HCM với bạn gái Đặng Dĩnh Siêu (bên phải) và Thái Sướng (bên trái) trong chuyến viếng thăm Lô Sơn bí mật của HCM và chưa 1 lần ghé thăm Tăng Tuyết Minh ( vợ Tàu của NAQ) – Chụp lại từ “HCM sinh bình khảo” trang 251
HCM và Mao – Quân hàm cuối cùng của Tình Báo HCM: Đại Tướng hay Thượng Tướng ?
Kết Luận:
Qua những dẫn chứng trên thì nhận định HCM là 1 người TQ làm tình báo cho CSTQ với bí danh Thiếu Tá Hồ Quang của Bát Lộ Quân / Quế Lâm là hoàn toàn khả tín. Như vậy nghi vấn HCM gỉa danh NAQ được biệt phái về VN đề hoàn thành Sứ Mạng “Cướp Nước VN” cho CSTQ là có thể chấp nhận được và hy vọng qua đó chúng ta có thể giải thích được những hành động khó hiểu và bí ẩn của HCM ở VN cũng như lịch sử (bất hạnh) VN thời đại HCM. Chúng ta thử đánh giá công / tội HCM cho 2 nước TQ / VN kể từ khi Tình Báo HCM chuẩn bị vượt biên giới Việt Trung về Pắc Bó:
- Tiêu Diệt Ban Lãnh Đạo đảng CSVN cánh miền nam ( qua Nam Kỳ Khởi Nghĩa 1940 – Cờ đỏ sao vàng chính thức xuất hiện lần đầu ở VN và cũng là Cờ của tỉnh Phúc Kiến TQ 1933/34) và những người có quan hệ với NAQ như Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Châu Văn Liêm, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Hữu Tiến….
Trước đây trên một số diễn đàn có thảo luận về việc cờ đỏ sao vàng đã được dùng tại tỉnh Phúc Kiến. Một người ký tên T.L.T. đã đề cập việc “Trên VTV3 Việt Nam, lúc 20h các ngày thứ 2 đến thứ 6, từ 26/2/2002 đến 08/4/2002 đã chiếu bộ phim Trường chinh 24 tập của Trung Quốc, do Kim Thao và Đường Quốc Cường đạo diễn, Quốc Cường cũng thủ vai Mao. Phim nói về cuộc kháng chiến chống Tưởng của Mao. Ai để ý sẽ thấy nhiều cảnh Hồng quân Trung Quốc phất cờ đỏ sao vàng trong các trận đánh. Nói thêm về Mao, theo lịch sử: khi bất đồng ý kiến với các lãnh tụ cộng sản đầu tiên của Trung Quốc, Mao quay qua nghiên cứu nông dân, tổ chức chính trị tập hợp nông dân ở khu vực Phúc Kiến, Hồ Nam, Giang Tây. Năm 1931 Mao thành lập Chính phủ cộng hòa Xô-viết đầu tiên tại Thụy Kim, Giang Tây. Vậy thủ phủ Phúc Châu (Fuzhou) thuộc Phúc Kiến nằm trong vùng ảnh hưởng của Mao.” Vừa rồi, ở Úc đài SBS có chiếu bộ phim này, người viết có xem và thấy cờ đỏ sao vàng (múi sao phình ra như lá cờ Việt Minh) xuất hiện nhiều lần, nhất là cảnh Hồng quân Trung Quốc phất cờ đỏ sao vàng trong các trận đánh đúng như T.L.T. đã góp ý.
Nguồn: Cội nguồn và ý nghĩa lá cờ đỏ sao vàng – Nguyễn Quang Duy – http://vietbf.com/forum/showthread.php?t=59346
- Cướp quyền lãnh đạo đảng CSVN 1940-1969 ( đưa vây cánh ủng hộ HCM miền bắc lên làm lãnh đạo…Trường Chinh, HCM)
- Cướp quyền lãnh đạo nhà nước VN 1945-1969
- Rước Pháp trở lại VN với Hiệp Định Sơ Bộ ngày 6/3/1946: Mượn tay Pháp tiêu diệt các Tổ chức kháng chiến Người Quốc Gia không theo CS và cả những người CS có khuynh hướng Quốc Gia…để rồi sau đó kêu gọi toàn dân kháng chiến đuổi Pháp ra vào ngày 19/12/1946.
- Cải cách ruộng đất (1953 – 1956) , NVGP (1958) , XLCĐ (1967): Phá tan cấu trúc che chở đùm bọc lẩn nhau ở làng quê VN, triệt tiêu tình thần sáng tác của giới Văn-Nghệ-Sĩ VN, trấn áp / loại bỏ những đảng viên CSVN có khuynh hướng thân LX với chủ trương chung sống hòa bình với TGTD.
- Trận Đánh ĐBP 1954: Đuổi Pháp ra, lần đầu tiên TQ được ngồi “chung chiếu” với Tứ Cường lúc bấy giờ ( Anh – Mỹ – Pháp – LX) ở Hội nghị Geneva năm 1954 , chia cắt VN để dụ Mỹ vào VN và cho nhân dân VN ăn bánh vẽ “Huyền Thoại Thiên Tài Cầm Quân VNG”. Cả miền bắc phấn khởi tự hào anh hùng, khí thế hồ hởi để chuẩn bị “Vượt Đường Mòn HCM-Trường Sơn” phục vụ mưu đồ Nam Tiến của TQ.
- Chỉ thị cho TT Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận vùng lưỡi bò Biển Đông là của TQ vào ngày 14.9.1958.
- Tặng Tổng Thống Diệm VNCH cành đào đỏ thắm vào dịp Tết Qúy Mão (1963) : Phải chăng cái chết của TT Diệm vào ngày 2.11.1963 đã được HCM báo trước ?
- Trận Tổng Tấn Công Mậu Thân 1968 (30/1 – 25/2): Sửa soạn cho Mỹ đến Paris tham dự Hội Đàm Paris (5/1968) và chuẩn bị cho Nixon đến Bắc Kinh (2/1972). Làm suy yếu chủ lực của MTGPMN ( “tự” giải tán vào ngày 2.7.1976).
- Xài máu dân như xài nước lã và giấy bạc giả: địch chết một ta chết mười.
- Thiết Lập một mạng lưới tình báo cho CSTQ ở VN : Hồ Binh Bát Vạn Nhập Tràng An là đây. Mỹ / VNCH không thua ở chiến trường nhưng đã thua CSTQ / CSVN ở mặt trận tình báo / tuyên vận và cũng là một trong nhiều nguyên nhân khiến Mỹ bỏ rơi VNCH: Người Mỹ không còn khã năng phân biệt bạn-thù ở VN – cùng một người VN ban ngày có thể là bạn nhưng ban đêm có thể là thù. Hiện tại cũng là Mạng lưới quyền lực thật sự đang cai trị và kiểm soát BCT/CSVN/VN.
Hai Trận Đánh lớn ĐBP 1954 và Tổng Tấn Công MT 1968 nói trên đều được CSTQ dàn dựng và chỉ đạo (3)/(4) và cũng là 2 công trạng lớn lao nhất của HCM ở VN: Đuổi Pháp Dụ Mỹ vào VN đễ rồi sau đó đánh Mỹ với Xương Máu VN cho tới lúc Mỹ chịu đến Paris để đàm phán HĐ-Paris, nhưng thực chất là để chuẩn bị cho TT Mỹ đến Bắc Kinh “xin đầu hàng có điệu kiện”: Trao ghế HĐBA-LHQ, bỏ cấm vận kinh tế đổi lại Lính Mỹ rút an toàn ra khỏi VN, Nam tiến của TQ đến VN là ngưng lại ( Ván Cờ Domino được đóng lại sau Trận Tổng Tấn Công MT 1968 từ 30.1 – 28.3.1968 và Trận Khe Sanh từ 21.1 – 8.4.1968 ).
Mậu Thân, 2000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết của 2000 người đó?
Tôi, tôi người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi cuộc xung phong …
(Chế Lan Viên)

Hành quân Pegasus / Lam Sơn 207A (từ 1/4 đến 12/4/1968) giải tỏa Căn cứ Khe Sanh sau 77 ngày bị vây hảm – Chiến thuật biễn người / công đồn đả viện của CSTQ/CSVN đã thất bại ở Khe Sanh. Trận Khe Sanh – t/g Đại Úy Võ Trung Tín – http://nhaydu.com/index_83hg_files/left_files/T-Chien/1968LamSon207AgiaiVayKheSanh.pdf
“Vì chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh ở những nơi như Concord và Gettysburg; Normandy và Khe Sanh” (TT Obama 2009)
Nguồn: SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM -TRUNG QUỐC TRONG 30 NĂM QUA – http://bauxitevietnam.info/tulieu/791004_suthatvequanhevntq.htm
Kennedy: “Tôi tin như thế. Tôi tin là cuộc chiến rất gần, Trung Quốc quá lớn và đang đứng phủ đầu trong vùng biên giới; Nếu miền Nam Việt Nam sụp đổ không những Trung Quốc được vị trí địa dư thuận lợi để đánh du kích vào Mã Lai Á mà còn đưa đến ấn tượng về một Đông Nam Á dưới ảnh hưởng bao trùm của Trung Quốc, cộng sản. Vì thế tôi tin vào thuyết Domino.” ( Phỏng vấn của Huntley và Brinkley với John F. Kennedy ngày 9/9/1963 )
Nguồn: John F. Kennedy và cuộc đảo chánh 1/11/1963 – http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=6871
Sự kiện Tết Mậu Thân là cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968 của Quân Giải phóng miền Nam trên hầu hết lãnh thổ của miền Nam Việt Nam, mặc dù cả hai bên đã có thỏa hiệp ngưng bắn. Đây là một sự kiện gây chấn động lớn trên thế giới và là chủ đề gây nhiều bàn cãi nhất; nó còn có một vai trò và hệ quả rất to lớn trong Chiến tranh Việt Nam.
Ba năm sau khi tham chiến trực tiếp quân đội Mỹ đã ngăn chặn miền Nam Việt Nam không rơi vào tay Cộng sản, nhưng quân Mỹ không thể bình định được miền Nam. Nắm được điểm yếu của phía Mỹ là dư luận của cả nhân dân và chính giới tại Mỹ ngày càng trở nên thiếu kiên nhẫn và phong trào phản chiến ngày càng lên mạnh không cho phép quân đội tham chiến quá lâu tại nước ngoài mà không có được một tiến bộ rõ rệt khả dĩ cho phép rút quân về nước, phía quân Giải phóng hoạch định một trận đánh gây tiếng vang lớn “Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị” (Lê Duẩn) để tạo đột phá cho chiến tranh, nhằm buộc Hoa Kỳ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.
Nguồn: Sự kiện Tết Mậu Thân – http://vi.wikipedia.org/wiki/Sự_kiện_Tết_Mậu_Thân

TT Mỹ Nixon đến Bắc Kinh gặp Mao “xin đầu hàng có điệu kiện” vào tháng 2/1972
Mậu Thân đã xảy ra 42 năm trước, nhưng trong nội tâm từng người Việt từ cả hai phía Quốc Gia hay Cộng Sản vẫn còn nhiều chia rẽ. Sự chia rẽ làm suy yếu nội lực dân tộc lại chính là thành quả lớn nhất mà những người cầm quyền Bắc Kinh gặt hái trong quá trình 60 năm chỉ đạo đảng Cộng sản Việt Nam. Mậu Thân nói riêng cuộc chiến Quốc Gia – Cộng Sản nói chung được đặt trong chiến lược tòan cầu của những người cầm quyền Bắc Kinh.
Nguồn: Tết Mậu Thân 1968 trong chiến lược tòan cầu của Trung Quốc. / Nguyễn Quang Duy – http://thien2012.multiply.com/journal/item/15
Lời chót:
Với “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” ( viết bằng tiếng TQ năm 1947/1948 và được dịch ra Pháp / Anh vào 1949/1950 ) CSTQ đã âm thầm chuẩn bị với dự luận Quốc Tế “HCM là NAQ người VN” . Sách này chỉ được dịch ra tiếng Việt từ những bản nói trên vào cuối thập niên 50 hay đầu thập niên 60 thế ký 20 và cho phổ biến ở VN để qua đó nhà nước CSVN chính thức công nhận HCM là NAQ.
Thư ký của HCM chưa bao giờ chứng nhận là đã thấy HCM viết “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, bản thảo viết tay bằng tiếng Tàu cũng chưa hề được công bố. HCM viết sách vào thời điểm nào ? Năm 1945 HCM còn phải lo đại sự là cướp chánh quyền của TT Trần Trọng Kim, năm 1946 HCM đi tầu sang Pháp để thương lượng với người Pháp, năm 1947 HCM kêu gọi toàn dân nổi dây đánh Pháp, năm 1948 Bác lại kêu gọi toàn quốc thi đua tăng gia sản xuất …thế thì làm sao mà Bác rãnh rổi đề ngồi viết sách tự kể đời mình !. Như vậy có khả năng là một nhóm tuyên vận tình báo Bắc Kinh nào đó với Bút danh chung Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm này nhằm phục vụ cho công tác tuyên vận giới thiệu với Quốc Tế về Nhân vật HCM là NAQ VN và cũng có thể đang nằm trong Cục Lưu trữ của Cơ Quan Tình Báo TQ ở Bắc Kinh cùng với bản TNĐL 2.9 ( cũng được viết bằng tiếng TQ !?) …chờ ngày trình làng để chứng minh HCM là người TQ.
Với “HCM Sanh Bình Khảo” ( cũng bằng tiếng Tàu năm 2008, thế kỹ 21 ) CSTQ lại âm thầm chuẩn bị dư luận với Quốc Tế về “HCM là người Tàu” nằm trong mưu đồ tóm thâu VN. Đều này cũng đồng nghĩa là trong vòng 10 năm tới VN sẽ đươc CSTQ phù phép đễ sáp nhập vào TQ ( có thể theo hình thức Liên Bang hay chiếm đóng như Tây Tạng bất chầp dư luận thế giới, còn tùy theo dư luận VN / thế giới và sức mạnh quân sự TQ ). Vận mệnh VN hiện nay như “Ngàn cân treo sợi tóc”, có thế sáng tới mở mắt ra là chúng ta đã thấy Quân Lính Tàu đứng đầy ở Ba Đình rồi nếu người VN không nhanh tay dành lại chánh quyền VN trong vài tháng / năm tới. Mất nước lần này là vĩnh viễn !
Tên HCM-City ( Nam), Lăng HCM ( Bắc, cũng được dùng để trấn yểm Thăng Long VN !? ), Tư tưởng HCM, Tiêm thuốc kích tử cho HCM chết đúng vào ngày / giờ trùng (2.9.1969 / 9 giờ 47 phút) (9) và Tiền HCM… là ý đồ vô cùng thâm độc của CSTQ cũng như nhằm chuẩn bị dự luận quốc tế trước khi tóm thâu VN theo chiến thuật Tằm Ăn Dâu.
Một Dân tộc không có Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc và nhận Giặc làm Cha Già Dân Tộc là câu chuyện có thật ở VN vào thế kỷ 20/21.
Tài liệu tham khảo:
(1) Một lựa chọn dân chủ trong quá khứ: Hoàng đế Bảo Đại – Thủ tướng Ngô Ðình Diệm / Tác gỉa Nguyễn Quang Duy – http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14621&rb=0302
(2) Bản chất những chế độ Cộng Sản – Tác gỉa Chu chi Nam – http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=3135&Itemid=318
(3) Vai trò của CS Trung Quốc trong chiến tranh 1946-1954 ở VietNam / Tác gỉa Trần Gia Phụng – http://ongvove.wordpress.com/2009/07/30/vai-tro-của-cs-trung-quốc-trong-chiến-tranh-1946-1954-ở-vietnam/
(4) Trung Cộng Chỉ Đạo và Tham Gia Tổng Tấn Công Mậu Thân 1968 / Tác giả: Nguyễn Quang Duy – http://vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=25046
(5) Nữ Thủ tướng Đức Angela Merkel – Diễn văn trước lưỡng viện Hoa Kỳ ngày 3.11.09.- http://danluan.org/node/3233
(6) Di Chúc Hồ Chí Minh – http://xoathantuong.tripod.com/hcm_dc.htm
(7) Tuyên ngôn độc lập năm 1945 – http://www.youtube.com/watch?v=9n1TNfx9LaQ&feature=related
(8) Hình nguyên thuỷ là nhân dân Hà Nội tụ tập trước Nhà Hát lớn để phản đối việc chia cắt đất nước giửa Pháp và CSVN (do phóng viên Howard Sochurek của Tạp Chí TIME-LIFE ghi vào ống kính máy ảnh ngày 1.7.1954) – http://www.life.com/image/82499964
(9) Nhân gian VN đã vô tình tiết lộ qua câu vè: Bác Hồ chết phải giờ trùng, khiến toàn dân tộc chẳng khùng cũng điên … – Một Nghiên Cứu Khoa Học về Hồ Chí Minh – http://www.doi-thoai.com/baimoi0909_062.html
11.11.2009 – 12.2.2010
TN
Bài viết này được phép phổ biến và sử dụng lại ở mọi hình thức và không cần xin phép với điều kiện là phải ghi rõ nguồn: Thiên Nam – http://thiennam2012.blogspot.com/
BỘ MẶT THẬT CỦA “ BÁC” HỒ :
Lần Gặp Bác Hồ Tôi Bị Mất Trinh
Huỳnh Thị Thanh Xuân
Năm 1964, tôi được cơ quan và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cho ra miền Bắc học văn hóa, đi bộ trên 3 tháng vượt Trường Sơn ra Hà Nội. Trường hành chính gần cầu Giấy, Hà Nội là nơi đón tiếp chúng tôi đầu tiên. Năm đó tôi mới 15 tuổi. Bởi vì sống trong vùng tạm chiếm của Mỹ – Diệm nên hiểu biết của tôi về Bác Hồ rất chi là ít ỏi.
Tôi đã sớm giác ngộ cách mạng, đã tham gia làm giao liên hợp pháp cho Thành ủy, Biệt động thành Đà Nẵng và Huyện ủy Điện Bàn, Đại Lộc. Cho đến khi lên chiến khu, tôi được ba tôi và các chú trong cơ quan dạy bảo thêm về tiểu sử của “Bác Hồ” – nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc ta. Phải lúc bấy giờ ” Bác ” như là thần thánh trong đầu tôi .Trước khi tôi ra miền Bắc, ba mẹ tôi ôm tôi ngồi trên chõng tre căn dặn: “Con ơi, ra đến miền Bắc nếu được gặp Bác Hồ, con nói ba mẹ và gia đình mình cũng như các cô chú trong cơ quan gởi lời thăm sức khỏe của Bác. Con phải cố gắng học thật tốt để sau này về phụng sự quê hương nghe con”. Lúc đó tôi chỉ biết im lặng.
Thật là vinh dự biết bao cho bản thân, gia đình và quê hương chúng tôi, tôi có tên trong danh sách gặp Bác Hồ. Đó là lúc 17 giờ ngày 30-8-1964. Sau khi ăn cơm chiều về có lệnh tập trung, bác Tố- Hữu – người phụ trách chung – nói: “Các cháu có danh sách sau đây ở lại cùng với anh Hanh phụ trách đội thiếu niên tiền phong”. Bác Hữu đọc: “… Lập, Lộc, Dung (con bác Nguyễn Hữu Thọ), Đệ, Hòa (Khánh Hòa), Độ, Đâu và Thanh, Kiến (QNĐN)”. Bác Hữu nói: “Các cháu chuẩn bị tư trang, sau 20 phút tập trung lên xe và được đi gặp Bác Hồ”. Nghe vậy, tất cả chúng tôi có tên trong danh sách reo ầm cả lên làm vang dội cả phòng. Trong lòng ai nấy đều phấn khởi chạy về phòng thay áo quần, quàng khăn đỏ, chải đầu tóc gọn gàng rồi chạy xuống cầu thang (lúc đó chúng tôi ở tầng 3 nhà A1 của Trường hành chính Hà Nội). Xuống khỏi cầu thang chúng tôi thấy có 4 xe đậu trước cửa, 2 xe Vônga – 1 xe màu đen, 1 xe màu cà phê sữa – và 2 xe com măng ca màu rêu. Tôi nhanh chân nhảy lên chiếc xe Vônga ở gần cùng với Ba Đen và anh Hanh phụ trách. Đoàn chúng tôi gồm 16 người lên xe đầy đủ. Chiếc xe từ từ lăn bánh rẽ tay trái đến cầu Giấy đi thẳng đường đê Bưởi rồi rẽ phải vào đường Hoàng Hoa Thám, đến đường Hùng Vương chạy từ từ và dừng lại. Một chú công an mở cổng và đoàn chúng tôi đi bộ vào dọc theo con đường rải đá sỏi nhỏ, hai bên trồng nhiều cây cảnh đều và gọn đẹp.
Gần đến nhà khách, chúng tôi thấy xuất hiện ông già mặc bộ đồ kaki màu xám với đôi dép cao su đen đang từ từ đi ra nở nụ cười phúc hậu. Bỗng anh Hanh và tất cả chúng tôi reo lên: “Bác Hồ!” rồi thi nhau chạy đến ôm chầm lấy Bác. Chúng tôi tranh nhau ôm chặt lấy Bác, còn Bác thì xoa đầu và vỗ lưng chúng tôi rồi Bác dẫn chúng tôi cùng đi vào nhà và bước lên cầu thang tầng 2. Chúng tôi ríu rít như đàn chim được tụ về tổ ấm. Lên khỏi cầu thang rẽ tay phải đi vào phòng họp mặt, lúc đó chúng tôi và các chú, các bác đi cùng với Bác ngồi vào từng ghế quây quần xung quanh chiếc bàn lớn. Câu đầu tiên Bác nói: “Dân chố gộ có mặt đây không?” (ý nói vui người dân QNĐN). Bạn Dung ngồi gần chọc nách và nói “có ạ”. Bác nói tiếp: “Dân dưa cải mắm cái có không?” (ý nói chỉ người địa phương Quảng Ngãi), tất cả chỉ qua phía Ba Đen (người dân tộc Tây nguyên). Ba-Đen nói “có ạ”. Bác lại nói: “Dân đầu gấu (đầu gối chân) có không?” (ý nói người quê ở Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận). Tất cả chúng tôi rất khó chiụ với sự giả tiếng và hỏi một cách kỳ cục của Bác. Sau đó Bác chỉ qua phía bạn Hòa…, rồi Bác nói tiếp: “Các cháu ăn mích chính ích ích thôi nghen” (ý nói quê ở Nam bộ). Tất cả lại chúng tôi lại không biết Bác nói gì nữa, sao bác diễu dỡ quá vậy , những gì tôi học được về Bác khi còn ở miền Nam hoàn toàn ngược lại khi tôi gặp con người bác thật sự .
Bác nói: “Hôm nay là ngày vui mà Bác cháu chúng ta gặp nhau, như vậy chúng ta lại hát bài Kết đoàn”. Bác vẫy tay bắt nhịp cùng chúng tôi, hội trường lúc này ngày càng tươi vui náo nhiệt. “Kết đoàn chúng ta là sức mạnh, kết đoàn chúng ta là sắt gang…”. Khi mà chúng tôi say sưa hát thì bác đi bóp vai những đứa con gái, tới chỗ tôi thì bác không những xoa lưng tôi mà bác còn để cho bàn tay đi xuống hai bờ mông của tôi xoa xoa bóp bóp làm cho tôi thâý rất là khó chịu, nhưng tôi không dám lên tiếng, đành đứng yên chiụ thôi . Trước mắt chúng tôi là bánh cức chó và kẹo bột cám ngào đường và nước chè xanh mà Bác cho dọn sẵn, Bác nói: “Mời các cháu cùng ăn với các bác cho vui”. Nói xong, Bác giới thiệu với chúng tôi: “Bác là Hồ Chí Minh, còn đây là bác Phạm Văn Đồng, người dưa cải đấy! Và đây là bác Trường Chinh, bác Võ Nguyên Giáp, bác Lê Thanh Nghị, các bác ở Bộ Chính trị hôm nay cũng có mặt với các cháu”. Bác đang nói thì thấy một ông già từ từ đi vào, miệng cười, vừa đi vừa vỗ tay, Bác Hồ giới thiệu luôn: “Đây là bác Tôn của các cháu”, cả phòng lại vỗ tay một lần nữa. Bác đi đến từng người trong chúng tôi và ôm hôn mỗi người một cái.
Đến lượt tôi được Bác hôn vào môi tôi một cách say đắm, lưỡi của bác còn thò vào miệng tôi ngoáy ngoáy , ngay lập tức tôi nhổm dậy và né khuôn mặt tôi qua một bên . Lúc này tôi muốn nói về tình cảm gia đình tôi, quê hương tôi với Bác nhưng bàn tay của bác không chiụ dừng lại sau bờ mông của tôi , còn tôi thì nghẹn ngào và mắc cỡ, rồi Bác lướt qua bạn bên cạnh. Tự dưng tôi chảy nước mắt, tôi thấy Bác Hồ này có gì kỳ cục qúa không giống như bác hồ mà chúng tôi học được trong miền Nam.
… Bác nói: “Bây giờ có cháu nào đứng lên hát cho các chú và các bác ở đây nghe một bài nào?”. Lúc này các bạn nhìn lẫn nhau vì đột ngột quá và thấy mắc cỡ không ai chuẩn bị kịp. Sau đó, anh Hanh chỉ Dung hát một bài. Bạn Dung hát: “Ngày con mới ra miền Bắc con còn bé xíu như là cái hạt tiêu…”, hát xong Dung nhận được một tràng vỗ tay khích lệ. Đến bạn Hòa mạnh dạn đứng lên hát bài: “Vui họp mặt. Từ ngàn phương về đây cùng nhau đoàn kết cùng đi tới tương lai…”, lại một tràng vỗ tay khích lệ nữa vang lên. Sau đó Bác nói: “Bác đại diện các chú ở đây căn dặn các cháu mấy điều. Bác biết các cháu ngồi đây là ở khắp các địa phương của miền Nam, Bác muốn gặp tất cả các cháu cũng như gia đình của các cháu và toàn thể đồng bào miền Nam song điều kiện chưa cho phép, đất nước đang bị chia cắt nhưng các cháu tin tưởng một ngày không xa Tổ quốc ta được thống nhất, gia đình chúng ta được sum họp, Bác sẽ có điều kiện đi thăm hỏi.. Các cháu viết thư hoặc nhắn tin cho gia đình là Bác và các chú ở đây gửi lời thăm gia đình và bạn bè các cháu ở miền Nam”. Một tràng vỗ tay nữa lại vang lên trong không khí trang nghiêm và ấm cúng. Bác Hồ nói tiếp: “Các cháu đã ra đến miền Bắc xã hội chủ nghĩa rồi đấy. Bác mong các cháu ngoan, học giỏi để xứng đáng là cháu ngoan của Bác. Các cháu là những ” hạt giống đỏ ” của đồng bào miền Nam gửi ra đây học tập cho nên phải làm sao cho xứng đáng với lòng mong mỏi đó. Bác chúc các cháu ngoan, khỏe, vui và học tập thật giỏi”.
Nói xong, Bác Hồ quay qua bên cạnh hỏi: “Các chú có ý kiến chi không?” (ý hỏi ý kiến các bác trong Bộ Chính trị có mặt lúc đó). Các bác đều không nói thêm và tán thành ý kiến với Bác. Bác nói tiếp: “Bây giờ các cháu xuống dưới xem phim”. Chúng tôi đứng lên và đi xuống với Bác, bạn thì đi cạnh bác Tôn, bạn thì đi cạnh bác Đồng, bác Duẩn, bác Chinh, bác Giáp, bác Nghị… Vào phòng chiếu phim ở tầng 1, Bác chiêu đãi bộ phim thiếu nhi miền Nam đánh Mỹ (phim hoạt hình). Lúc đó tự nhiên tôi thấy vinh dự đến lạ kỳ, một niềm vui khó tả, Bác Hồ ngồi cạnh tôi, bác ôm chặc tôi , một tay choàng qua vai tôi và xoa xoa lên ngực tôi, bộ ngực mớí lớn của một cô gái miền Nam .
Khi đèn phòng bật sáng Bác hỏi về gia đình tôi và cuộc hành trình của tôi đi bộ vượt Trường Sơn hơn 3 tháng như thế nào kể cho Bác nghe. Bác xoa đầu và hôn lên trán tôi hai cái rất lâu, tôi nhớ rất kỹ, tôi kể sơ về hoạt động giao liên của tôi cho Bác nghe và nhớ đến lời căn dặn của ba mẹ tôi cùng các chú trong cơ quan, ba tôi ở chiến khu Đại Lộc QNĐN thế nào. Ngồi một lúc, Bác đi qua bên con Hoa , Con Lan và tôi thâý bàn tay của bác cũng không bao giờ chịu làm biếng .
Đêm hôm đó tôi được một chị thư ký của bác nói nhỏ cho tôi biết là tôi hân hạnh được bác muốn cho gặp riêng bác, có những chuyện bác muốn hỏi tôi nhưng vì sáng nay đông quá bác không tiện. Khi tôi cùng Chị Nhàng đi tớí chổ Bác ở thì tôi được Chị Nhàng dẫn đi tắm rữa sạch sẽ và chị Nhàng nhìn tôi trong đôi mắt u buồn và tội nghiệp .Tôi được chị Nhàng dẫn đi qua một hàng lang, và tớí phòng ngủ của bác, chị Nhàng gõ cữa ba tiếng cánh cửa mở ra, Chị Nhàng bảo tôi đi vào và chị xoay lưng bỏ đi . Khi tôi vào phòng Bác ôm chầm lấy tôi, hôn môi tôi , hai tay bác xoa nắn khắp người tôi, Bác bóp hai bờ ngực nhỏ của tôi, bác bóp mông tôi, bác bồng tôi lên thều thào vào trong tai tôi :
- Để bác cấy hạt giống đỏ cho cháu, cháu mang về miền Nam cho bác nhé.
Bác bồng tôi lên giường, hai tay bác đè tôi ra và lột áo quần tôi. Bác như một con cọp đói mồi , sau một hồì kháng cự tôi biết mình không thể nào làm gì hơn nên đành nằm xuôi tay… Hai hàng lệ một cô gái miền Nam vừa tròn 15 tuổi đã bị bác cướp đi mất cái trong trắng.
Những đêm sau mấy đứa con gái khác cũng được dẫn đi như tôi, tôi biết là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng, nhưng chúng tôi không ai dám nói với ai lời nào. Và qua cái chết của con Lành và con Hoa thì những ngày sau đó chúng tôi sống trong hoang mang và sợ sệt không biết là khi nào tới phiên của mình .
Cho đến khi thống nhất nước nhà, ba mẹ tôi không còn nữa, đã hy sinh cho độc lập dân tộc, song họ hàng tôi vẫn vui lòng, bởi vì tôi đã thay mặt gia đình và các cô chú trong cơ quan cũng như bạn bè tôi được vinh dự gặp Bác Hồ. Nhưng có ai biết được rằng sau cái gọi là vinh danh gặp bác Hồ là chuyện gì xảy ra đâu Kể cả chồng tôi khi hỏi tới trinh tiết của tôi, tôi cũng không dám nói, vì anh ấy là một đảng viên cao cấp, là một người lãnh đạo của tỉnh QNDN. Tôi chỉ nói là khi đi công tác tôi bị bọn ngụy quân bắt tôi và hãm hiếp tôi, chứ làm sao tôi dám nói tôi bị hãm hiếp lúc mới 15 tuổi và bị hãm hiếp ngay phủ chủ tịch và chính là ” Bác hồ ” hãm hiếp tôi, cho chồng tôi nghe .
Bây giờ ngồi đây tự điểm mặt lại trong số chúng tôi được vinh dự gặp Bác Hồ hơn 40 năm trước đây, chúng tôi đều trưởng thành, ngôì ngậm nguì nhớ laị những đứa bỏ xác lại trong phủ chủ tịch và không bao giờ về lại được miền Nam. Tự nghĩ lại, chúng tôi thấy rất thấm thía lời Bác Hồ đã dạy: “Bác sẽ cấy những hạt giống đỏ của bác cho đồng bào miền Nam”.
Quảng Nam-Đà nẵng (QNĐN) Ngày mùng 2 thánh 9 năm 2005
Huỳnh Thị Thanh Xuân
————————————————————————-
Trích bài của Nguyễn Quốc Đống:
1- HCM không phải là người sống độc thân, không vợ con để dành hết thì giờ cho cách mạng giải phóng dân tộc; ông ta có vợ, nhiều nhân tình, có con thậm chí còn có rất nhiều vợ (Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Minh Khai, Nông Thị Xuân…)
2- HCM không phải là người khiêm tốn, giản dị; ông ta đã viết sách để ca tụng chính mình ( các sách “Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch”, ký tên là Trần Dân Tiên, “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện”, ký tên T. Lan đều do chính HCM viết)
3- HCM không phải là người nhân nghĩa, đạo đức; ông ta đã giết vợ và bỏ con không nuôi dưỡng ( Vợ là Nông Thị Xuân bị giết chết, còn con trai là Nguyễn Tất Trung sau phải đổi tên là Vũ Trung và cho người khác nuôi)
4- HCM không phải là một người lương thiện; ông ta lấy thơ của người khác và nhận là của mình (Cuốn thơ “Ngục Trung Nhật Ký” không phải do HCM viết ra).
5- HCM không phải là một người yêu nước; ông ta không cộng tác với các nhà ái quốc thuộc đảng phái quốc gia mà thẳng tay giết hại họ (Bán đứng cụ Phan Bội Châu cho thực dân Pháp, giết hại Phạm Quỳnh, Tạ Thu Thâu vì họ không cùng đường lối với ông ta)
6- Phụ thân của HCM không phải từ quan vì không muốn làm việc cho giặc Pháp mà vì phạm tội ngộ sát nên bị bãi chức.
7- HCM không phải là người thương dân; ông ta sẵn sàng hy sinh mạng sống của người khác để phục vụ cho đường lối chính sách của mình (thực hiện cải cách ruộng đất theo kiểu Tàu Cộng khiến cả trăm ngàn nông dân vô tội miền bắc chết thảm, gia tài sản nghiệp bị tịch thu, con cháu bị trả thù, bỏ đói…) Nhà báo Ba Lan Robert đã phát biểu: “HCM là một người diệt chủng, có tội với dân tộc mình.”
8- HCM không phải là 1 lãnh đạo sáng suốt; ông ta chọn lầm đường khiến cả nước triền miên sống trong chiến tranh và đói khổ (không chọn liên kết với các nhà ái quốc trong nước để giành độc lập cho nước nhà mà lại chọn theo đường lối cách mạng vô sản do quốc tế CS chủ trương)
9- HCM không có công cứu nước; ông ta đã bán nước cho Cộng Sản Nga, Tàu (hoạt động nhiều năm trong các tổ chức Cộng Sản tại Pháp, Nga, Tàu, Đông Dương…) – HCM không có công xuất ngoại để tìm đường cứu nước; ông ta lên tàu xuất dương để tìm kế mưu sinh và chính trong thời gian ở nước ngoài ông ta đã bị mê hoặc bởi chủ nghĩa CS và trở thành 1 đảng viên CS quốc tế. Nhà báo Olivier Todd nhận xét:”HCM là một tín đồ CS cuồng tín.”
10- HCM không có công cứu nước; ông ta phạm tội bán nước cho Tàu cộng vì ngay từ năm 1958 ông đã để Phạm Văn Đồng với tư cách là thủ tướng ký công hàm xác nhận chủ quyền của Trung quốc đối với 2 đảo Trường Sa và Hoàng Sa.Việc mất đất vùng biên giới và mất biển đang xảy ra ngày nay đã là bằng chứng rõ ràng của việc bán nước này.
11- HCM không phải là nhà tư tưởng, nhà văn hóa: ông ta không hề có một hệ tư tưởng riêng mà chỉ rập khuôn các tư tưởng sẵn có của người khác.
– HỒ CHÍ MINH : Người chồng vô đạo ! Người cha vô lương ! :
Vụ thảm sát cô Nguyễn Thị Xuân: chánh phạm là ai?
Cách đây khoảng hơn một tuần lễ, tác giả Bùi Tín đã viết trên Đàn Chim Việt, đặt vấn đề về sự bất công kéo dài đã 51 năm đối với người con rơi Nguyễn Tất Trung mà ông Hồ Chí Minh đã có với người phụ nữ dân tộc Tày tên là Nguyễn Thị Xuân (tức Nông Thị Xuân).. tác giả Bùi Tín đã nhắc lại vụ thảm sát cô Xuân ở Hà Nội vào đầu năm 1957, do tên Trần Quốc Hoàn chủ mưu, mà trực tiếp thực hiện là hai tên Ninh xồm và Tạ Quang Chiến, bảo vệ và lái xe cho ông Hồ.
Ngược giòng thời gian, được biết rằng sau hiệp định Geneva 1954, khi ông Hồ đã về ở trong Bắc Bộ Phủ, theo ý kiến của Ban Lãnh Đạo đảng (?), cái-gọi-là Ủy Ban Bảo Vệ Sức Khỏe trung ương – mà nôm na là toán ma-cô chuyên đi tìm gái về để thỏa mãn dục vọng của bọn lãnh tụ cao cấp trong đảng cộng sản – được lệnh tìm một cô gái đẹp về để cho ông Hồ hành lạc. Sự thật bỉ ổi này được che phủ bằng lớp sơn hào nhoáng lý luận là “Bác cần phải giải quyết sinh lý điều hòa để tốt cho sức khỏe và công việc hoạt động của Bác được hiệu quả”.
Thoạt đầu một phụ nữ nhan sắc mặn mà tên là Nguyễn Thị Phương Mai, được đưa từ Thanh Hóa về Hà Nội để tiến cử lên ông Hồ. Cô này là Ủy viên Tỉnh ủy Thanh Hóa. Nhưng cô đòi rằng phải tổ chức hôn nhân hẳn hòi. Dĩ nhiên, làm sao ông Hồ có thể chấp nhận chuyện ông công khai lấy vợ được, vì như thế thì còn chi là hình ảnh linh thiêng của vị lãnh tụ thần thánh suốt đời chỉ biết sả thân hy sinh phục vụ nhân dân, không phút nào nghĩ tới cá nhân mình! Chính ông lập luận rằng nếu ông không lấy vợ thì có lợi cho uy tín chính trị của ông hơn. “Bác và các anh (ý nói Bộ chính trị) cho rằng Bác không lấy vợ thì có lợi cho uy tín chính trị hơn” (Trần Danh Tuyên, Bí thư Thành ủy Hà Nội nói với Nguyễn Minh Cần. Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chánh TP Hà Nội – Xem Công Lý Đòi Hỏi, Tg Nguyễn Minh Cần, Văn Nghệ xb 1997, tr. 321 ). Đây là một lập luận hoàn toàn sai lầm và đầy tính chất đạo đức giả. Thế cho nên chuyện tiến cử cô Nguyễn Thị Phương Mai đã không thành.
Đầu năm 1955, tên Trần Đăng Ninh, Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần tìm được cô Nguyễn Thị Xuân (còn tên là Nông Thị Xuân) mới ngoài 20 tuổi, đang làm hộ lý trong một đơn vị quân nhu. Ninh đưa cô Xuân về Hà Nội để phục vụ ông Hồ. Có lẽ vì là người miền núi vốn thực thà chân chất, không khôn lanh được như cô Nguyễn Thị Phương Mai, nên cô Xuân tin là được về làm vợ ông Hồ, ông Chủ tịch nước, thì còn gì danh giá và hân hạnh cho bằng (dù năm đó ông Hồ đã 65 tuổi, tức là hơn cô Xuân trên 40 tuổi – nếu lấy vợ sớm, ông Hồ có thể có cháu nội lớn bằng cô Xuân). Cô Xuân còn xin cho hai cô em họ là cô Nguyễn Thị Vàng và cô Nguyệt về ở cùng cho vui. Họ được bố trí cho ở trên lầu căn nhà số 66 phố Hàng Bông Thợ Nhuộm Hà Nội. Nhà này thuộc Bộ Công An, và Bộ trưởng Công An Trần Quốc Hoàn được ông Hồ giao cho nhiệm vụ quản lý cô Xuân và hai cô em họ kia. Mỗi tuần lễ, tên Trần Quốc Hoàn cho xe đến chở cô Xuân vào Phủ Chủ tịch, có lần ở lại qua đêm, có lần ở lại hai – ba ngày. Và ông Hồ tỏ ra hài lòng về cô lắm.
Đến cuối năm 1956, cô Xuân sinh cho ông Hồ được một bé trai và ông đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Như đã nói ở trên, cô Xuân vốn ngây thơ, dễ tin người, nên cứ tưởng rằng cô được ông Hồ coi là vợ chính thức. Bởi vậy sau khi sinh con trai rồi, một hôm cô nói với ông Hồ đại khái là “nay đã có con trai rồi, xin cho ra công khai” — nghĩa là cô đinh ninh tin rằng mình đã có công sinh cho ông Hồ một mụn con trai để “nối ngôi” thì hẳn công trạng của cô phải lớn lắm, và ông Hồ vui lắm. Nhưng cô có ngờ đâu rằng lời xin “được ra công khai”, tức là xin ông Hồ chính thức hóa chuyện hôn nhân với cô, công khai nhận cô là vợ, và nhận cậu con trai mà cô mới sinh, là một hành động vô cùng nguy hiểm: chính là cô vừa mới dại dột xin chịu bản án tử hình! Nghe cô Xuân xin như vậy, ông Hồ đã ngọt ngào trả lời: “Cô xin như vậy là hợp tình hợp lý. Nhưng phải được Bộ Chính Trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ý mới được. Do đó, cô đành phải chờ một thời gian nữa..” (Trích lá thư tố cáo của anh thương binh chồng chưa cưới của cô Vàng, đề ngày 24/07/1983 gửi ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch Quốc Hội — Sách Công Lý Đòi Hỏi, Văn Nghệ xb 1997, Nguyễn Minh Cần).
Sau đó, vẫn theo lời tố cáo của lá thư viết bằng máu hòa nước mắt 25 năm sau, tên Trần Quốc Hoàn đã cưỡng hiếp cô Xuân ở ngay số 66 Hàng Bông Nhuộm. Rồi tối 11/02/1957, tên Ninh xồm, bảo vệ của ông Hồ, cùng tên Tạ Quang Chiến, lái xe cho ông Hồ, đem xe đến chở cô Xuân, bảo là lên gặp ông Hồ. Sáng hôm sau, 12 / 2 / 1957, người ta phát giác xác cô Xuân bị xe cán ở dốc Cổ Ngư lên Chèm Công an báo cáo là nạn nhân đã chết trước khi bị xe cán . Nói khác đi, đây là vụ ngụy tạo ra một tai nạn xe hơi. Bác sĩ khám nghiệm tử thi xác nhận nạn nhân bị chùm chăn và đập vỡ sọ bằng búa. Nhưng Trần Quốc Hoàn ra lệnh đem chôn gấp, không cho mổ tử thi giảo nghiệm. Vẫn theo báo cáo của công an, chiếc xe gây tai nạn chạy từ Phủ Chủ tịch ra Và sau đó vụ án mạng man rợ này đã được cho “chìm xuồng “, không ai dám nhắc nhở đến nữa! Tất nhiên dân chúng không ai biết, vì báo chí có được phép loan tin đâu. Chỉ có một vài cán bộ cao cấp thuộc hàng trung ương mới biết, nhưng cũng chỉ dám xì xào trong chỗ rất riêng tư thôi. Không ai dám hé răng vì nếu lỡ biết mà không kín miệng thì dễ mất mạng lắm. Theo lá thư tố cáo của anh thương binh chồng chưa cưới của cô Vàng, sau đó cả cô Vàng, cô Nguyệt và những người họ hàng, bạn bè các cô biết được chuyện rùng rợn này nhưng không kín miệng, đều bị giết chết hết, bằng cách này hay cách khác.
Tại sao tên Trần Quốc Hoàn dám làm một việc táo tợn ngoài sức tưởng tượng của mọi người, là cưỡng hiếp vợ (cứ tạm gọi như vậy) của Chủ tịch nước, người quyền uy tối thượng lúc bấy giờ? Tại sao hai tên Ninh xồm và Tạ Quang Chiến là bảo vệ và lái xe – tức là người rất thân tín của ông Hồ – lại dám ra tay giết vợ của chủ mình? Và, điều vô cùng quan trọng là: Ông Hồ có biết vụ thảm sát man rợ này không? Tại sao không thấy ông ra lệnh điều tra vụ án?
Chẳng cần phải có tài điều tra như thám tử lừng danh Sherlock Holmes hay những nhân viên thượng thặng của FBI, người ta cũng thấy ngay những sự kiện rành rành trước mắt để cho một người với một trí thông minh trung bình có thể đi đến kết luận về những kẻ tòng phạm và chánh phạm trong vụ án mạng này.
Trước hết là thái độ thờ ơ, ù lỳ, lãnh đạm của ông Hồ sau cái chết thê thảm của cô Xuân, một người mà ông đã từng ăn nằm với người ta trong hai năm trời, với kết quả là một đứa con trai ra đời. Khi một người bình thường thấy bỗng nhiên một vật mình thường dùng bị mất – một chiếc khăn lau mặt một đôi vớ… chẳng hạn – thì cũng phải thắc mắc là “tại sao không thấy nó?” Huống hồ đây là một cô gái đẹp mà ông từng ôm ấp trong 2 năm và đã có con với ông. Vậy mà khi cô Xuân biến mất, ông Hồ không thắc mắc? Nếu ông có thắc mắc thì ông đã làm gì? Có ra lệnh điều tra không? Và kết quả điều tra ra sao? Chỉ biết rằng tên Trần Quốc Hoàn vẫn làm Bộ trưởng Công an và có chân trong Trung ương đảng, tên Tạ Quang Chiến về sau lên tới chức Tổng cục phó Tổng cục Thể dục thể thao. Có thể có người nêu giả thuyết “Hay là hồi đó ông Hồ cũng phải kiêng dè tụi nó? Ông ở thế yếu nên đành phải im miệng?” Điều này hoàn toàn không đúng. Vì vào khoảng thời gian những năm 1955 – 56 – 57 uy quyền của ông Hồ còn rất lớn. Sau vụ cải cách ruộng đất làm cho bao nhiêu ngàn dân vô tội mất mạng và mất nhà mất cửa do lỗi của chính ông Hồ (xin đọc Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Văn Nghệ xb, tr. 222), rồi ông đưa Trường Chinh ra làm con dê tế thần để nhận tội thay cho ông. Thời gian này phe Lê Duẩn, Lê Đức Thọ vẫn chưa cấu kết được với nhau và chưa có quyền. Ngày 30/10/1956 báo Nhân Dân loan tin tại hội nghị đảng lần thứ X (tháng 9/1956) Hồ Chí Minh quyết định cất chức Tổng bí thư của Đặng Xuân Khu rồi tự kiêm nhiệm luôn chức vụ này. Những tay chân thân tín của Khu như Lê Văn Lương, và Hồ Viết Thắng cũng bị hạ bệ. Thắng bị ra khỏi BCHTU, và Lương chỉ còn chân dự khuyết. Lương còn phải từ bỏ chức vụ Thứ trưởng Nội vụ và Phó Chủ nhiệm Phòng Nội chính Phủ Thủ tướng. Đồng thời, Lê Duẩn, Bí thư Đảng bộ Miền Nam, được đưa ra Hà Nội vào năm 1957 để chuẩn bị thay thế Khu (Xem: VN Niên Biểu Nhân Vật Chí, Văn Hóa xb, tr.166, Chánh Đạo). Như thế, cái lý do mà ông Hồ đưa ra “… phải được Bộ chính trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ý thì mới được “ để không chịu cho mẹ con cô Xuân ra công khai và bảo cô “đành phải chờ một thời gian nữa…” là không hợp lý, không đúng sự thật. Chẳng qua, ông Hồ chỉ coi cô Xuân như một thứ đồ chơi, để cho ông thỏa mãn lòng dâm dục mà thôi. Phần cô Xuân thì quá dại, quá ngây thơ, cứ tưởng rằng cô được làm vợ ông Hồ thật. Cho nên khi bị tên Trần Quốc Hoàn giở trò sàm sỡ dâm ô, cô đã mắng hắn: “Không được hỗn! Tôi là vợ ông Chủ tịch nước!”. Bị cảnh cáo như vậy, tên Hoàn chẳng những không tỏ ra sợ, trái lại còn cười vào mặt cô Xuân và nói mỉa: “Tôi biết bà to lắm! Nhưng tính mạng bà nằm trong tay tôi”. Rồi hắn ngang nhiên cưỡng hiếp cô. (Công Lý Đòi Hỏi, Văn Nghệ xb, tr.322, Nguyễn Minh Cần).
Tại sao tên Trần Quốc Hoàn dám lộng hành như vậy? Hiếp vợ Chủ tịch nước đầy uy quyền, trước đó còn nói mỉa mai và cho biết “tính mạng bà nằm trong tay tôi.” Tại sao hai tên Ninh xồm và Tạ Quang Chiến dám giết vợ Chú tịch nước ? Ông Hồ có thuộc hạng người nhẹ dạ, cả tin, để sử dụng những quân phản phúc làm cận vệ, giao sinh mạng mình cho chúng? Vậy thì câu trả lời là: ba tên này dám lộng hành như vậy, mà còn tỏ ra tự tin khi ra tay hành động, chẳng hạn như lời lẽ của tên Hoàn, và sự kiện chúng không cần che dấu hành tung mà ngang nhiên dùng xe của Phủ Chủ tịch đem vứt xác cô Xuân để cho người ta trông thấy. Như thế rõ ràng chúng đã nhận được tín hiệu từ chủ nhân của chúng, để mà hành động. Dĩ nhiên một người thủ đoạn, khôn ngoan, thâm hiểm như ông Hồ, ông không dại gì mà ra lệnh – dù là khẩu lệnh – cho chúng. Nhưng ông thiếu gì cách? Chỉ cần một vài thái độ, một vài lời nói, cũng đủ cho lũ côn đồ này hiểu là chủ của chúng đã “bật đèn xanh” rồi, chủ của chúng muốn chúng làm gì, nên chúng thản nhiên hành động mà không sợ bị trừng trị..
Ông Hồ không chỉ tàn nhẫn bất nhân đối với cô Xuân, một phụ nữ ngây thơ hết lòng tôn thờ phục vụ ông. Ông tàn nhẫn, vô lương tâm đối với cả đứa con nhỏ của ông. Cô Xuân bị giết một cách man rợ, ông lờ đi không cần biết, coi như không có chuyện gì xảy ra cả. Ông còn lờ luôn giọt máu của ông. Nguyễn Tất Trung sau khi ra đời được mấy tháng thì mất mẹ. Cha là ông Chủ tịch nước đầy quyền uy – một ông vua đang trên ngôi – còn sờ sờ ra đấy, nhưng không hề hỏi han tới. Mãi ít lâu sau mới có một tên công an đến đem đứa bé giao cho ông Nguyễn Lương Bằng nuôi. Vài tháng sau cậu bé lại được chuyển cho vợ chồng tướng Chu Văn Tấn nuôi mấy năm trên Thái Nguyên. Rồi sau đó các bà trong hội Phụ nữ cứu quốc trung ương đưa Trung vào trại mồ côi của hội, rồi vào trường Nguyễn Văn Trỗi dành cho con liệt sĩ. Và sau khi ông Hồ chết (1969) thì Trung được ông Vũ Kỳ, cựu thư ký riêng của ông Hồ, đem về nuôi và đặt tên là Vũ Trung (xem bài Không Thể Bất Công Kéo Dài Đến Vậy, Bùi Tín, Đàn Chim Việt Online). Nếu ông Hồ còn một chút lương tâm tối thiểu, còn nghĩ tới giọt máu rơi, hoặc ít nhất còn biết rủ lòng thương đối với một đứa trẻ thơ mất mẹ trong hoàn cảnh thật thê thảm, thì ông chỉ cần ra một lệnh, tất nhiên cậu Trung đã được nuôi nấng rất đàng hoàng. Nếu ông chỉ cần làm một chuyện nhỏ đó, Nguyễn Tất Trung hẳn đã được học hành nên người, chứ đâu có phải sống lây lất, khốn khổ, nay ở với người này, mai ở với người khác, rồi vào viện mồ côi, không được học hành đến nơi đến chốn. Nếu ông còn có tình thương cha con mà nhìn nhận Trung – dù là ngấm ngầm – thì đâu đến nỗi khi trưởng thành Trung phải làm công việc coi kho để kiếm sống? Ở đời này, may mắn là không có nhiều người cha tàn nhẫn như vậy.
Một con người vô lương tâm, tàn nhẫn đối với người mình đã từng ôm ấp, người đã từng tôn thờ phục vụ mình, tàn nhẫn với cả đứa trẻ thơ vô tội mồ côi mẹ lại là con của mình – một người lòng dạ như vậy mà vẫn vỗ ngực tự nhận là đạo đức, nhân ái, thương người … thì liệu có thể tin được không?
Nguồn trích : vantuyen.net
THÊM VÀI CHI TIẾT VỀ HỒ CHÍ MINH VÀ ĐÀN BÀ/CON GÁI:
Nguyễn thị Minh Khai là vợ chưa cưới của Lê hồng Phong. Vì LHP có thớ hơn Hồ đối với CS quốc tế, Hồ bảo LHP trở lại VN rồi báo Pháp bắt. LHP bị Pháp xử tử.
Ở Moscow, Hồ cưỡng đoạt Minh Khai, Minh Khai khai với nhà chức trách Liên Xô là đã có chồng, tên chồng là Nguyễn ái Quốc. Sau này, chính Hồ cũng báo Pháp bắt và xử tử Minh Khai cùng với Hà huy Tập và nhiều đồng chí khác. Nơi xử tử là Mười tám khu Vườn trầu, Hóc Môn. Tác giả bài này (BX) trước 1975 vẫn thường tới gặp gỡ cử tri ở đây.
(4) Nông thị Ngát cùng Hồ (bí danh: chú Thu) sinh ra Nông đức Mạnh (1940). Nông thị Xuân khi được đưa vào phủ Chủ tịch (1955) thì Hồ đã 65, Xuân mới 20, gái Tày. Xuân sinh ra Nguyễn tất Trung, hiện đang sống ở Hà nội như ông hoàng. Trung có thể thay thế Mạnh khi Mạnh về hưu. Xuân bị Hồ ra lệnh cho Trần quốc Hoàn giết chết chỉ vì Xuân muốn ra công khai chứ làm gái gọi cho Hồ mãi, nhục quá. Trước khi giết, Trần quốc Hoàn đã trói tay chân Xuân vào thành giường, hiếp dâm Xuân nhiều lần (Vũ thư Hiên-Đêm giữa ban ngày).
Theo cụ Trần trọng Kim, tác giả Việt Nam sử lược, Hồ có một người con gái với Đỗ thị Lạc ở Cao bằng. Nhưng sau này không ai còn biết hai mẹ con thị Lạc sống chết ra sao nữa. Có lẽ Hồ đã cho người thủ tiêu rồi. Còn có tin, Hồ có một đứa con hoang với một phụ nữ khác, sinh ra đứa con trai, gửi cho một nhà báo miền Nam nuôi, y có bút danh là Thiểu Lăng Q. cũng viết báo. Con của Hồ cả trăm!
Huỳnh thị Thanh Xuân, người Đà nẵng, cháu ngoan bác Hồ, quàng khăn Đỏ, 15 tuổi mất trinh vì Hồ (năm 1964), chị tự thuật lại trong một bài viết, hiện còn sống.
Chưa có phản hồi.
Gửi phản hồi
-
Gần đây
- Lữ Giang, người Cao Niên Lú Lẫn
- Từ Washington DC nhỏ nghĩ về Hà Nội “to”
- Quản lý nợ công
- Đại sứ Nhật Bản: Con người cần trở về với đức tin
- Nhà Kỹ Nghệ và Doanh Nghiệp Việt Nam: Trương Văn Bền
- Hồi ký của một người Hà Nội
- Washington: Con Người Dân Chủ
- Vài lời với bà Đỗ Ngọc Bích
- Hãy nhìn cho đúng lịch sử
- Thư của nhà văn Phạm Ðình Trọng: Lời cuối với đảng
- CHỈ MỘT LỜI XIN LỖI THÔI – XONG SAO ?
- NHẮN ANH BÙI TÍN: MÓN NỢ KHÔNG THỂ TRẢ
-
Liên kết
- Talawas
- Tổ Quốc
- BBC
- RFA
- RFI
- VOA
- Văn Tuyển
- Việt Nam Review
- Người Việt
- x-cafevn
- Người Buôn Gió
- NÓKÌA
- An Việt Toàn Cầu
- Thư Viện Việt Nam
- Viện Việt Học
- Bauxitevietnam
- viettudan.net
- Quê Mẹ
- Vlink.com
- freevietnews.com
- Tự Do
- VIỆT NAM NGÀY MAI
- Tủ Sách Nghiên Cứu
- marxists.org
- trotskyism.org
- Hàng Hoá Trung Quốc & Tương Lai Nước Việt
- Nguyễn Chính Kết
- The World Bank
- THE WOLD ALMANAC
- Thư viện ebook
- VN Thư Quán
- Thư viện giáo trình điện tử
- BS Hồ Hải
- Đặc Trưng
- Thái Thụy Vy
- Englishrainbow
- Radio Free Viet Nam
- Tâm Thức Việt Nam
- Dân Việt Đức Quốc
- Vũ Hữu San
- trachnhiemonline.com
- nguoithathoc
- Vietnamnet
- Niềm Tin Việt Nam
- Khoa Hoc
- EXRYU
- Tiến Lên XHCN
- Thế Giới & Việt Nam
- 8406 Úc
- Viết Văn
- Tuần Việt Nam
- Ong Vò Vẻ
- Saigontribune
- nhadat24.com
- skyscrapercity.com
- Nhớ Sài Gòn
- Cải Lương Việt Nam
- anhbasg
- songythuc
- SaiGon Echo
- dcvonline
- Dân Luận
- quechoablog
- dantocdanchuinfo
- Trang the Ridiculous
- Quãng Ngãi Nghĩa Thục
- Việt Luận
- Tuần Việt Nam
- Nam Kỳ Lục Tỉnh
- Ba Cây Trúc
-
Lưu trữ
- Tháng Năm 2010 (16)
- Tháng Tư 2010 (38)
- Tháng Ba 2010 (13)
- Tháng Mười Một 2009 (4)
- Tháng Mười 2009 (13)
- Tháng Chín 2009 (2)
-
Chuyên mục
- Bùi Quang Vơm
- Bùi Tín
- cộng sản
- Cù Huy Hà Vũ
- CHÍNH TRỊ
- CHIẾN TRANH
- Clinton Do
- DÂN CHỦ
- Duy Nhân
- Giao Tiên
- Hà Tiến Nhất
- Hà Văn Thùy
- Hồng Lĩnh
- hcm
- Hoàng Long
- Hương Sàigòn
- karl marx
- KINH TẾ
- Lê Diễn Đức
- Lê Quế Lâm
- LỊCH SỬ
- Long Điền
- Mường Giang
- Ngọc Hoàng
- NGHỆ THUẬT
- Nguễn Xuân Phước
- Nguyễn Chí Thiện
- Nguyễn Duy Thành
- Nguyễn Quang Thiều
- Nguyễn Thiếu Nhẫn
- Nguyễn Thượng Long
- Nguyễn Văn Lục
- Nguyễn Văn Trấn
- Nguyễn Đức Hiệp
- Người Quan Sát
- Nhóm Phóng viên FNA
- Nhất Hướng
- Phan Văn Lợi
- Phạm Hồng Sơn
- Phạm Đình Trọng
- TÔN GIÁO
- tầu
- tựdo
- THÁI LAN
- THỜI SỰ
- Trúc Giang
- Trần Khải
- Trần Đình Ngọc
- Tuấn Vũ
- TUẦN VIỆT NAM
- VIỆT TÂN
- Xuân Khê
- Đỗ Anh Thơ
- Đỗ KH.
- Đinh Kim Phúc
- Đoàn Tiểu Long
-
RSS
RSS của bài viết
RSS của phản hồi
